Một hồn thơ lục bát ra đi...

Trong Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 4, do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) sang hôm Rằm tháng Giêng vừa qua, tập thơ thứ 6 mang tên Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (NXB Hội Nhà Văn - 2006) của nhà thơ Đồng Đức Bốn được trưng bày và phát hành là cuốn sách dày dặn nhất, với 1108 trang, in trên giấy tốt, bìa vải cứng.

Tác giả không có mặt dự ngày hội thơ, vì đã hơn một năm nay, anh lâm bệnh nặng. Câu thơ cuối trong bài thơ cuối in trong tập thơ cuối này của Đồng Đức Bốn như lời chào vĩnh biệt những người thân. Và trái tim nhà thơ đã ngừng đập hồi 10 giờ 45 phút ngày 14-2-2006.

Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948. Quê anh là xóm Lê Lác 1 của thôn Song Mai thuộc xã An Hồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Anh từng là thanh niên xung phong, rồi về làm thợ gò tới bậc 6/7 tại Xí nghiệp sửa chữa ô tô Hải Phòng. Sau đó, anh chuyển sang làm đại diện cho Xí nghiệp xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng tại Hà Nội. Đó chính là thời kỳ anh chàng nửa quê nửa tỉnh này gia nhập văn đàn, bắt đầu nếm trải những vui buồn của nghiệp văn chương thơ phú.

Cách đây 20 năm, công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu tạo những bước chuyển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội. Văn đàn cũng thấp thoáng có những cây bút mới khiến bạn đọc chú ý, như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoànnnn và Đồng Đức Bốn bắt đầu dò dẫm từng bước trên con đường thơ. Hồi đó, anh chưa xác định rõ sở trường và sở đoản của mình.

Khi biết sở trường sáng tác của mình, Đồng Đức Bốn viết rất khoẻ, hầu hết là thơ lục bát. Thơ lục bát có niêm luật chặt chẽ, nhưng rất gần gũi với lối sống, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam thật thà, chất phác. Mang đặc trưng cho thơ Việt Nam, kiểu thơ này nhiều khi lại rất nôm na, đậm phong vị cổ truyền. Nó rất dễ làm nhưng chính vì thế mà khó hay. Đồng Đức Bốn làm thơ lục bát chủ yếu là đưa ra cách nói mới lạ, có khi dễ dàng như là lời nói thường ngày vậy. Tuy trình độ học vấn không cao, có vốn từ vựng chưa nhiều, nhưng anh lại thu hái được khá nhiều câu thơ hay. Có không ít bạn đọc thuộc thơ của anh.

Thơ lục bát của anh như có cái gì đó khác người, hiếm và lạ. Với tập Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao Động - 1993) rồi 7 năm sau có thêm 2 tập thơ Trở về với mẹ ta thôi và tập Cuối cùng vẫn còn dòng sông (NXB Hội Nhà Văn - 2000), Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng đặc biệt giữa bối cảnh thơ Việt Nam có phần xô bồ. Thơ anh hằn sâu những dấu vết của quãng đời sóng gió phiêu bạt nhiều nơi của anh. Cho đến nay, Đồng Đức Bốn đã xuất bản 6 tập thơ, trong đó có 4 tập thơ lục bát. Hơn 10 năm qua, Đồng Đức Bốn đoạt nhiều giải thưởng của các cuộc thi thơ do báo Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Tiền Phong phát động. Tập thơ lục bát Chuông chùa kêu trong mưa (NXB Hội Nhà Văn - 2002) của anh đoại Giải A của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam năm 2003. Bài thơ Chăn trâu đốt lửa của Đồng Đức Bốn được chọn vào sách giáo khoa lớp 5 thử nghiệm và sẽ được giảng dạy đại trà vào năm học tới. Có lẽ anh đang là một trong những người làm thơ lục bát hay nhất nước ta hiện nay.

Căn bệnh hiểm nghèo đã buộc anh vào bệnh viện chữa trị. Trên giường bệnh, anh vẫn lạc quan và viết thêm được hàng chục bài thơ gửi nhắn bạn bè và gửi đăng báo. Với anh, thơ là lộc của trời. Những năm tháng cuối đời, anh lo nhiều việc trọng cho gia đình. Anh kịp ký tặng những cuốn thơ mới in và đồ sộ nhất theo ý nguyện của anh cho một số bạn thơ Hải Phòng. Và giờ đây, nói theo ý thơ Đồng Đức Bốn: Anh đã về suối với sông/ Trở về với đất với không có gì/ Hồn thơ lục bát ra đi/ Xin người ở lại sống vì nhau hơn/ Anh giờ về với trăng sao, xin trời một trận mưa rào đón anh./.