Mong muốn đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước
QTV - Hơn 30 năm gắn bó với nghề, GS.TSKH. Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Văn Mậu đã dìu dắt, dạy dỗ nhiều thế hệ học trò. Trong đó nhiều tài năng trẻ được ông phát hiện, bồi dưỡng và đạt thành tích cao tại các cuộc thi quốc tế, không ít người đã thành danh, đóng góp vào sự phát triển của nước nhà…
QTV - Hơn 30 năm gắn bó với nghề, GS.TSKH. Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Văn Mậu đã dìu dắt, dạy dỗ nhiều thế hệ học trò. Trong đó nhiều tài năng trẻ được ông phát hiện, bồi dưỡng và đạt thành tích cao tại các cuộc thi quốc tế, không ít người đã thành danh, đóng góp vào sự phát triển của nước nhà… Hiện nay, trong khi đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ông vẫn tiếp tục giảng dạy, truyền đạt những kiến thức cho các thế hệ học trò thân yêu của mình… Trong bộn bề công việc, GS. Nguyễn Văn Mậu vẫn cởi mở trò chuyện với phóng viên Tạp chí Xây dựng Đảng.
Khi còn nhỏ, Giáo sư là một học trò hiếu học, là niềm tự hào của cả gia đình, bà con trong vùng, Giáo sư có thể chia sẻ với bạn đọc Tạp chí những năm tháng đó?
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê chiêm trũng thuộc xã Tân Phong, Ninh Giang, Hải Dương. Gia đình làm nghề nông, lại đông anh em nên rất nghèo. Tôi có một tuổi thơ lam lũ, không có điều kiện học tập như các bạn bây giờ. Mỗi ngày, một buổi giúp việc nhà, một buổi được cắp sách tới trường đã là may mắn lắm. Hầu như anh em tôi luôn thiếu sách giáo khoa, tài liệu, bút mực để học vì gia đình không có đủ điều kiện mua sắm. Còn nhớ, cứ vào năm học mới, để chuẩn bị đồ dùng cho con tới trường, bố mẹ tôi phải bán từng con gà, quả trứng, nải chuối, nhặt nhạnh, gom góp tiền từ rất lâu. Bởi vậy anh em tôi phải rất dè xẻn khi viết vở, dùng bút mực và dùng đi dùng lại sách vở của nhau.
Càng lên lớp trên thì sách giáo khoa, tài liệu tham khảo càng nhiều, càng thiếu nên tôi thường mượn bạn bè, thầy cô. Tranh thủ giờ ra chơi, những lúc các bạn không dùng đến sách miệt mài đọc, ghi chép lại. Nhiều đêm thức trắng để đọc vì ngày mai phải trả sách. Không có tài liệu, nên khi đến lớp tôi tập trung nghe giảng, suy nghĩ, trăn trở, lật ngược lại vấn đề và hỏi thầy cô, trao đổi với bạn bè, vì thế nhớ bài, hiểu bài rất nhanh. Suốt những năm tiểu học, trung học, tôi luôn đứng đầu lớp, riêng môn toán thì giành được rất nhiều giải của huyện, tỉnh.
Tốt nghiệp phổ thông với thành tích xuất sắc, năm 1967, tôi là một trong những thanh niên được Nhà nước chọn đi học ở Liên Xô. Bất ngờ quá! Bởi lần đầu tiên ở vùng quê nghèo, con một nông dân được đi học nước ngoài. Niềm vui ấy được cả nhà chia sẻ, cả xã ăn mừng. Tôi vẫn nhớ cảm xúc khi đón nhận tin vui đó. Bởi nó là niềm vinh dự của bản thân và niềm tự hào của người dân quê tôi.
Còn khi học ở nước ngoài?
Những năm học ở nước ngoài, đất nước đang có chiến tranh. Hằng ngày, sinh viên chúng tôi được nghe thông tin về tình hình Đế quốc Mỹ xâm lược ném bom phá hoại thành phố, ruộng đồng, những đau thương, mất mát của đồng bào trong nước. Để đền đáp nghĩa tình quê hương, tôi tự nhủ phải gắng học giỏi. Năm học đầu tiên, tôi đoạt giải nhất trong kỳ thi toán dành cho sinh viên nước ngoài học dự bị đại học ở Mát-xcơ-va. Trong những năm tháng học tại khoa Toán, Đại học Tổng hợp Min-xcơ, sau những buổi lên lớp thì bao nhiêu thời gian còn lại là tôi ngồi lì trên thư viện… Năm 1973, là một trong những sinh viên xuất sắc của khóa học, tôi được nhận bằng đỏ và được chuyển tiếp sinh. Song tôi có nguyện vọng được về nước, mong muốn mang những tri thức tích lũy được phục vụ đất nước khi đang khó khăn.
Và Giáo sư đến với nghề giáo từ ngày đấy?
Về nước, tôi được phân công công tác tại Viện Toán. Đấy là ước mơ của bất kỳ một sinh viên nào. Song, như thể là định mệnh, tôi không chỉ làm công tác nghiên cứu mà cuộc đời lại gắn tôi với nghề dạy học. Năm 1974, Việt Nam chính thức đăng ký dự thi Olympic Toán quốc tế. Để có thể “đưa chuông đi đánh nước người”, ngoài việc chọn những học sinh giỏi, xuất sắc rất cần có giáo viên giỏi hướng dẫn. Tôi được cử về Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Trường Đại học khoa học tự nhiên (ĐHKHTN) làm nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi. Và cuộc đời nhà giáo của tôi bắt đầu từ đấy.
Trong hơn 30 năm qua, từ khi là giáo viên, sau này là hiệu trưởng, tôi luôn tự nhủ: Đã là thầy phải mang tất cả khả năng và trí tuệ để đào tạo được học trò giỏi, những trí thức tài năng, tâm huyết để xây dựng, phát triển đất nước. Khối THPT chuyên mà tôi cùng các thầy cô trong trường tham gia giảng dạy đến nay có hơn 2.000 học sinh tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc vào học tại các trường đại học. Học sinh hệ chuyên đã đoạt 99 huy chương (20 vàng, 42 bạc, 37 đồng) trong các kỳ thi Olympic quốc tế; đoạt 209 giải (27 giải nhất, 94 giải nhì, 88 giải ba) với các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Năm 1995, với cương vị trưởng đoàn dẫn học sinh Việt Nam tham dự kỳ thi toán quốc tế tại Ca-na-đa, lần đầu tiên Đoàn Việt Nam xếp thứ hạng cao (thứ tư) trong lịch sử thi đấu quốc tế (sáu em đi thi thì hai em đoạt huy chương vàng, bốn em đoạt huy chương bạc). Nhiều học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi đã và đang tích cực phấn đấu, góp phần xây dựng nước nhà như Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Tiến Dũng, Ngô Bảo Châu… Các giải thưởng quốc tế và trong nước đã đem lại niềm tự hào cho nền Giáo dục - Đào tạo Việt Nam. Số huy chương vàng ở các giải thi quốc tế của hệ THPT chuyên (ĐHKHTN) chiếm hơn 2/3 tổng số huy chương vàng mà học sinh cả nước đoạt được. Đây là niềm vinh quang của Nhà trường, cũng là niềm tự hào của những năm tháng yêu nghề, yêu trò của riêng tôi.
Giáo sư có thể nói về đóng góp của mình cho Ngành Toán học và nền giáo dục nước nhà?
Năm 1978, tôi vừa giảng dạy hệ chuyên toán phổ thông, vừa là giảng viên đại học. Vào thời điểm đó, Nhà trường có cử giáo viên đi làm nghiên cứu sinh nước ngoài. Do trước mắt rất cần giáo viên bồi dưỡng học trò đi thi toán quốc tế, nên tôi không được tham dự. Thế là tôi quyết định tự nghiên cứu. Đầu thập niên 80, do có nhiều công trình khoa học về toán học nên năm 1982, tôi được bảo vệ đặc cách (không phải làm nghiên cứu sinh) tại trường Đại học Tổng hợp, là giảng viên trẻ đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán học, chuyên ngành giải tích trong nước. Niềm vui càng được nhân thêm vì thời gian đó tôi trở thành đảng viên chính thức của Đảng.
Giữa thập niên 80, tôi may mắn được cử đi làm nghiên cứu sinh cao cấp tại Đại học Bách khoa Vác-sa-va, Ba Lan. Trong thời gian nghiên cứu ở Ba Lan, tôi đã hoàn thành hai cuốn sách chuyên khảo bằng tiếng Anh, được bạn bè và các giáo sư đánh giá cao.
Hoàn thành luận án tiến sĩ khoa học xuất sắc tại Ba Lan, năm 1990 tôi trở lại trường và lần lượt đảm nhận các cương vị chủ nhiệm bộ môn Toán giải tích, khoa Toán - Cơ - Tin học (1991); Bí thư chi bộ, Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng (1995); Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng (1997). Tôi đã có hơn 40 bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế, 5 cuốn sách chuyên khảo, 10 giáo trình toán học đại học… Cuối năm 2006, cuốn sách chuyên khảo toán học (bằng tiếng Anh) của tôi được trao giải Bạc của Giải thưởng sách Việt Nam. Năm 2002, tôi vinh dự được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân. Đó là niềm vui, hạnh phúc, đồng thời tăng thêm trách nhiệm. Hiện nay, tôi tham gia làm Phó chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, Chủ tịch Hội Toán học Hà Nội, Uỷ viên Hội đồng Biên tập Tạp chí Toán học và tuổi trẻ
Những đóng góp của tôi nằm trong đóng góp chung của đội ngũ giáo viên, đảng viên Trường ĐHKHTN trong sự nghiệp trồng người, đặc biệt là đào tạo những nhà khoa học trẻ tài năng. Trường ĐHKHTN không chỉ đào tạo cán bộ khoa học cơ bản, cung cấp cán bộ giảng dạy cho các trường đại học, cao đẳng trong nước, viện nghiên cứu, mà còn dẫn đầu về thành tích đào tạo tài năng trẻ cho đất nước.
Tôi còn nhớ, ngay từ đầu thập niên 60, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất quan tâm đến phát hiện những học sinh có năng khiếu đặc biệt để đào tạo nhân tài cho đất nước. Từ năm 1961 đến nay, kể cả trong những năm chiến tranh ác liệt, hằng năm, Ngành Giáo dục nước ta vẫn đều đặn mở các kỳ thi chọn học sinh giỏi từ cơ sở đến toàn quốc. Hàng nghìn học sinh giỏi đã được phát hiện và tuyển chọn. Năm 1965, Thủ tướng Chính phủ chính thức quyết định mở lớp đào tạo những học sinh có khả năng toán học đặc biệt. Bắt đầu từ năm học 1965-1966, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đi đầu trong việc mở các lớp phổ thông chuyên toán. Các tiến sĩ toán học Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường, Lê Đình Thịnh... đã trực tiếp giảng dạy cho các lớp này.
Năm 1997, Đảng ủy, Nhà trường ĐHKHTN đã đưa ra mô hình đào tạo cử nhân khoa học tài năng và được Bộ Giáo dục - Đào tạo chấp nhận. Hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng đã thu hút khoảng 70% những học sinh đã đoạt giải cao trong các kỳ thi Olympic quốc tế và quốc gia. Đến nay, Trường đã đào tạo đến khóa thứ sáu với tổng số 372 sinh viên, trong đó 237 sinh viên đạt giải quốc tế và quốc gia. Chất lượng đào tạo được đánh giá cao, khóa I có 43% sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, 57 loại giỏi và 100% được chuyển tiếp sinh; khóa II có 31% loại xuất sắc, 69% loại giỏi… Hiện nay có 74 sinh viên các khóa được cử ra nước ngoài học tập ở các trường đại học danh tiếng. Đa số các em đứng đầu các kỳ thi Olympic giữa các trường đại học và được các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học đánh giá cao, sẵn sàng nhận vào làm việc... Mô hình này được các trường đại học trong nước học tập, nhân rộng như: Đại học Bách khoa, Sư phạm Hà Nội, Khoa học tự nhiên TP. Hồ Chí Minh…
Trong xu hướng hội nhập quốc tế, nhất là sau khi nước ta gia nhập WTO, là Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Nhà trường, Giáo sư có dự định gì?
Trong giai đoạn 2005-2010, khẩu hiệu hành động của Đảng bộ trường ĐHKHTN là: “Phát triển - Chủ động hội nhập - Chất lượng cao”. Một trong những trọng tâm mà Đảng uỷ, lãnh đạo Nhà trường đặt ra là tích cực đổi mới phương thức đào tạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, những năm qua, Nhà trường, các khoa đã chuẩn hóa 133 bộ giáo trình ở tất cả các ngành, các bậc học, xuất bản hơn 300 giáo trình mới, nhân bản 300 đầu sách giáo khoa của các nước Nga, Anh, Mỹ, Nhật, úc … và 6.830 sách chuyên đề khoa học lớn. Bên cạnh đó chú ý nâng cấp mở rộng các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực… Đây là nền tảng khá cơ bản để Nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo, cung cấp những cán bộ khoa học tài năng cho các lĩnh vực của đất nước.
Tôi luôn coi công tác nghiên cứu khoa học là khâu quan trọng của nhà trường. Tôi quan niệm muốn dạy tốt phải nghiên cứu và nghiên cứu tốt để dạy học có hiệu quả. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, công việc này sẽ được Nhà trường đẩy mạnh hơn nữa. Hiện nay, Trường có quan hệ với hơn 20 trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới. Đảng ủy sẽ lãnh đạo Nhà trường tích cực mở rộng quan hệ với các trường đại học danh tiếng trên thế giới để giao lưu, học hỏi những kinh nghiệm giảng dạy tốt, tiếp cận những tri thức mới để truyền thụ tới sinh viên. Tạo điều kiện cho các giảng viên, cán bộ trẻ tiếp tục nâng cao trình độ và có cơ hội thể hiện năng lực chuyên môn, khả năng quản lý trong xu thế hội nhập. Có chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” để thu hút những nhà giáo, nhà khoa học và những nghiên cứu sinh giỏi đang học tập trong nước, nước ngoài… về góp sức xây dựng Nhà trường.
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ trên, theo tôi cần phát huy vai trò của các chi bộ, các tổ chức đoàn thể, cán bộ, công chức, đảng viên trong mọi hoạt động của Nhà trường. Trước hết, Đảng ủy, toàn thể đảng viên trong Đảng bộ phải đoàn kết, thống nhất xây dựng được chương trình hành động thiết thực, có giải pháp lãnh đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả. Các chi bộ phải thực sự là hạt nhân chính trị để quy tụ, phát huy vai trò, trí tuệ, tinh thần gương mẫu của đảng viên. Từng chi bộ xây dựng chương trình, giải pháp cụ thể, sát với nhiệm vụ chính trị của mình. Năm 2007, phấn đấu 90% chi bộ xếp loại trong sạch, vững mạnh, 85% số đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các tổ chức đoàn thể chủ động, sáng tạo trong mọi hoạt động, là nơi chia sẻ, động viên, khuyến khích cán bộ, đảng viên, sinh viên công tác, học tập tốt… Các đảng viên, nhất là các bí thư cấp uỷ phải gương mẫu, trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất đạo đức tốt để làm gương cho các thế hệ sinh viên… Để Nhà trường luôn xứng đáng với danh hiệu đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
Nhân dịp xuân mới, kỷ niệm Ngày thành lập Đảng, Giáo sư nhắn nhủ điều gì cho các học trò thân yêu của mình?
Tôi luôn mong muốn đào tạo được nhiều nhà khoa học tài năng để phục vụ sự nghiệp đổi mới của đất nước. Đó là biểu hiện có ý nghĩa nhất chào mừng 77 mùa xuân của Đảng.
Tôi mong những học trò thân yêu của mình, các em sinh ra khi đất nước đã hoà bình, được thừa hưởng tất cả những gì ông cha, anh chị mình đã hy sinh tạo dựng nên, các em hãy ra sức rèn đức, luyện tài, phấn đấu vươn lên đứng trong hàng ngũ của Đảng, trở thành chủ nhân của tri thức mới, làm chủ lĩnh vực khoa học, xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh.
Xin cảm ơn GS.TSKH. NGND Nguyễn Văn Mậu!
Theo xaydungdang.org.vn