Mong mỏi được sống hợp pháp của một người lính bao giờ thành hiện thực? - Chuyện người lính tình nguyện

Mùa xuân năm 1983, trước hoàn cảnh gia đình anh Sinh ở xa, gia đình chị Pha ly tán nên UBND xã DẤt, huyện Kiên Soai, tỉnh Kan Dal (Cam-pu-chia) đứng ra tổ chức lễ cưới cho anh chị. Hai vợ chồng được bạn bè, đồng đội dựng cho căn nhà gỗ. Và 5 đứa con lần lượt ra đời….

Ngày 28-8-1978, anh nông dân Nguyễn Văn Sinh, 19 tuổi, thôn Lê Xá, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Sau vài tháng huấn luyện, anh được biên chế vào đại đội 7, tiểu đoàn 276, lữ đoàn công binh 25 (Quân đoàn 4) chuyên làm nhiệm vụ dò và gỡ mìn. Cuối năm 1978, anh cùng đơn vị tham gia các trận đánh ác liệt đẩy lùi quân Pol Pot ra khỏi các tỉnh biên giới Tây Nam của Tổ quốc rồi tiến sâu vào sào huyệt của bọn diệt chủng, giải phóng đất nước Cam-pu-chia. Tháng 4-1979, anh Sinh bị thương trong một trận đánh phải về thành phố Hồ Chí Minh điều trị suốt 5 tháng. Ra viện, anh trở về đơn vị lúc này đóng tại sân bay Po Chen Tong. Vốn bản tính nhanh nhẹn, thẳng thắn, anh được cấp trên lựa chọn tham gia khóa học cấp tốc 2 tháng, được bồi dưỡng về đường lối, chủ trương, chính sách của đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia trong những ngày đầu giành chính quyền và học tiếng Khơ-me. Sau lớp học, anh được điều động về đơn vị mới là Tiểu đoàn chuyên gia của Quân đoàn 4 với nhiệm vụ bảo vệ và tổ chức lại cuộc sống cho những bản làng Khơ-me vừa được giải phóng. Vừa thoát khỏi thảm họa diệt chủng các bản làng Khơ-me xơ xác tiêu điều, anh cùng đồng đội vừa phải chiến đấu với tàn quân Pol Pot vừa lo phát gạo, thuốc men vừa hướng dẫn bà con tổ chức sản xuất, mở các lớp học chữ, khôi phục làng xóm…

 

Cuối năm 1982, Nguyễn Văn Sinh được điều sang Đoàn 9906 thuộc Quân khu 9, đóng tại huyện Kiên Soai, tỉnh Kan Dal, Cam-pu-chia. Anh được cử cắm chốt tại cơ sở, phụ trách 3 xã thuộc huyện Kiên Soai với nhiệm vụ làm công tác dân vận. Anh được kết nạp đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia và được phong quân hàm trung úy, phái viên dân vận của Quân khu 9. Trong thời gian này, tình yêu trong sáng giữa anh lính trẻ tình nguyện Việt Nam Nguyễn Văn Sinh với cô gái Khơ-me có tên Chuong So Pha, Chủ tịch Hội phụ nữ xã DẤt, huyện Kiên Soai nảy nở. Chị Pha có hoàn cảnh gia đình rất thương tâm. Dưới chế độ diệt chủng tàn khốc, bố mẹ cùng 6 anh chị em, người bị giết, người mất tích, gia đình tan nát, ly tán….Một mình chị Pha phiêu bạt rồi được một người mẹ Khơ-me cưu mang…

 

 Mùa xuân năm 1983, trước hoàn cảnh gia đình anh Sinh ở xa, gia đình chị Pha ly tán nên UBND xã DẤt đứng ra tổ chức lễ cưới cho anh chị. Hai vợ chồng được bạn bè, đồng đội dựng cho căn nhà gỗ. Rồi 5 đứa con lần lượt ra đời…Nguyễn Thị Lang, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Bá Tiến và Nguyễn Phương Thảo…Nỗi nhớ Việt Nam được anh gửi gắm qua những câu chuyện kể với các con về quê hương, đất nước, gia đình, làng xóm. Trong trái tim của bọn trẻ, Việt Nam là địa chỉ ruột thịt, thiêng liêng mà chúng mong có dịp để trở về…

 

Năm 1985, anh được ra quân. Các đơn vị tình nguyện Việt Nam lần lượt hoàn thành nhiệm vụ rút về nước. Do điều kiện khó khăn, anh không thể đưa vợ và 5 con trở về quê hương. Nhớ quê hương, làng xóm, nhớ bố mẹ, anh em, anh chỉ biết viết thư gửi về nhà. Nhưng những lá thư gửi đi mà không thấy hồi âm….Rồi vết thương cũ tái phát, sức khỏe sa sút, cuộc sống thiếu thốn, cơ hội về quê hương với anh Sinh ngày càng xa…Vì thế anh cũng không hay biết ở quê hương, bố anh, cụ Nguyễn Văn Phát, một cựu chiến binh Điện Biên năm xưa cùng người mẹ già bị bệnh tim thắt lòng chờ con, tìm kiếm tin con, không biết con đã hy sinh trong chiến đấu hay phiêu bạt nơi nào. 25 năm khắc khoải chờ mong, vẫn không mảy may có thông tin về anh. Cụ Phát từng tuyệt vọng đến mức lên xã đề nghị công nhận liệt sĩ cho con…. Cho đến một ngày…..

 

Thanh Thủy