Môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Đẩy nhanh tốc độ cải cách để không tụt lùi

Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố kết quả xếp hạng môi trường kinh doanh của 181 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới cho năm 2009. Theo bảng xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 92, tụt 1 bậc so với năm 2008. Liệu bản báo cáo này có phản ánh đúng thực tế của Việt Nam và chúng ta cần làm gì để cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới ?

Tốc độ cải cách vẫn chậm

 

Như vậy, trong bảng xếp hạng 3 năm gần đây, các vị trí của Việt Nam có những thay đổi bất ngờ khi trước đó,  kết quả năm 2008 được đánh giá là có nhiều khả năng để chiếm giữ những thứ hạng cao hơn. Những hy vọng về bước tiến tiếp theo cho năm 2009 không thành sự thực.

 

Trong 10 lĩnh vực được đánh giá một số lĩnh vực Việt Nam đạt vị trí khá cao như: đăng ký tài sản (đứng thứ 37/181); thực thi hợp đồng (40/181) với thời gian mất 295 ngày; vay vốn tín dụng (43/181). Báo cáo đánh giá Việt Nam có nhiều thay đổi tích cực trong lĩnh vực vay vốn tín dụng bởi đã áp dụng hệ thống đăng ký thông tin tín dụng công giúp lưu trữ các hồ sơ tín dụng lâu hơn, giúp cung cấp các tổ chức tín dụng có thêm dữ liệu về lịch sử tín dụng và khả năng trả nợ của các khách hàng tiềm năng. Các lĩnh vực khác có mức xếp hạng như sau: thành lập doanh nghiệp (108/181) với thời gian cần thiết để thành lập là 50 ngày; cấp giấy phép xây dựng (67/181), thời gian là 194 ngày; tuyển dụng và sa thải lao động (90/181); thương mại quốc tế (67/181); giải thể doanh nghiệp (124/181); nộp thuế (140/181), với thời gian đóng thuế trong 1 năm là 1.050 giờ; đứng ở vị trí thấp nhất là lĩnh vực bảo vệ nhà đầu tư (170/181).

 

Những con số trên thể hiện mức cải thiện của Việt Nam trong một số lãnh đạo, nhưng xét về tổng thể, môi trường kinh doanh nước ta theo bản báo cáo vẫn tụt hạng. Điều này cho thấy một thực tế là Việt Nam tụt hạng không phải vì chúng ta dừng lại, không cải cách, đổi mới, mà do tốc độ cải cách của các nước khác nhanh hơn, mức độ cải cách mạnh hơn, sâu rộng hơn.

 

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng báo cáo chưa phản ánh được một cách chân thực về môi trường kinh doanh của Việt Nam. Theo đó có những điểm sáng bị làm tối đi và ngược lại. Tuy nhiên, bản báo cáo năm nay cũng là một dịp để Việt Nam xem mình đang ở đâu trong khu vực và toàn thế giới.

 

Biết người, biết mình để tăng tốc cải cách

 

Dù chưa phản ánh đủ, nhưng chí ít, chỉ số môi trường kinh doanh là một tham số có tính tham khảo tốt, để Việt Nam nhìn nhận chính mình qua con mắt của người bên ngoài, từ đó soi chiếu lại bản thân nền kinh tế, để nhận diện mình và tăng tốc cải cách.

 

Đơn cử, Xin-ga-po - nền kinh tế đứng hàng đầu trong bảng xếp hạng toàn cầu về mức độ thuận lợi kinh doanh, tăng nhanh tốc độ cấp phép xây dựng, rút ngắn thời gian cấp phép từ 102 ngày xuống còn 38 ngày. Gần 99% số hồ sơ được nộp qua hệ thống khai báo điện tử về xây dựng và bất động sản. Xin-ga-po cũng đơn giản hóa hệ thống đăng ký trực tuyến cho việc thành lập doanh nghiệp, cắt giảm một thủ tục và rút ngắn thời gian được một ngày.

 

Các nước khác nằm ở nhóm dẫn đầu về cải cách trong khu vực Đông Nam Á gồm Thái Lan, Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a. Các quốc gia này có những cải cách tạo thuận lợi cho việc nộp thuế, thành lập doanh nghiệp, thương mại quốc tế và đăng ký tài sản, bên cạnh đó có những bước tiến trong việc bảo vệ nhà đầu tư, cải thiện thủ tục giải thể doanh nghiệp, củng cố các quyền pháp lý của người cho vay và đi vay vốn tín dụng. Cam-pu-chia ban hành một bộ luật mới về giao dịch bảo đảm, giúp trở thành nước đứng đầu thế giới trong cải cách, tạo điều kiện thuận lợi cho vay vốn tín dụng.

 

Với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, không gian cải cách rất lớn, rất rộng, ở tất cả các lĩnh vực, nghĩa là cơ hội thăng hạng của Việt Nam rất lớn. Đáng tiếc là đến nay, chúng ta lại không tạo được những “bước nhảy” như nhiều nước khác. Đáng lo hơn là chúng ta đang dường như chậm lại trong cuộc cải cách và cuộc đua cạnh tranh với thế giới.

 

Trong bối cảnh các nước đều nỗ lực cải cách, tái cấu trúc, Việt Nam buộc phải đẩy nhanh tốc độ trong cuộc đua, nếu không muốn bị bỏ lại đằng sau trong tiến trình phát triển. Thông thường có hai nhân tố để thúc đẩy cải cách: một là sự chủ động và năng động nội tại để cải cách nhằm thích ứng, hoặc là những đòi hỏi và sức ép từ bên ngoài buộc chúng ta phải đổi mới mình. Cải cách tự thân hay chờ sức ép bên ngoài thúc, đó là lựa chọn của chính Việt Nam lúc này, trông vào một quyết tâm và bản lĩnh đổi mới, vượt lên  chính mình, trong chính sách và trong từng hành động cụ thể.

 

Nguyễn Hải (tổng hợp)