Mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc (tiếp)
Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình 30 năm qua 4 châu lục đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm ra con đường cách mạng đưa dân tộc đứng lên phá tan xích xiềng nô lệ, giành lấy độc lập, tự do.
Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình 30 năm qua 4 châu lục đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm ra con đường cách mạng đưa dân tộc đứng lên phá tan xích xiềng nô lệ, giành lấy độc lập, tự do. Tròn một thế kỷ trôi qua nhưng giây phút Người bước lên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”mang theo dự định lớn lao tìm xem “cái gì ẩn giấu đằng sau”, làm nên văn minh và sức mạnh của các nước phương Tây để “trở về giúp đồng bào” mãi mãi là một mốc son đầy ý nghĩa trong lịch sử dân tộc hôm nay và cả mai sau…
Hành trình của ý chí và đôi bàn tay
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ngay từ nhỏ Nguyễn Tất Thành được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Quê hương Nam Đàn (tỉnh Nghệ An) vốn là cái nôi giàu truyền thống cách mạng đã hun đúc nên trong tâm hồn của Người lòng yêu nước, thương dân sâu sắc.
![]() |
| Bến Nhà Rồng - nơi cách đây 100 năm Bác Hồ bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước |
Những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp khai thác thuộc địa lần thứ nhất dẫn tới sự phân hóa trong xã hội Việt Nam. Làn sóng đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta diễn ra sôi nổi với các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội… Tuy nhiên, do thiếu đường lối chính trị đúng đắn và sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến, các phong trào đều thất bại. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh và sự bế tắc của phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành càng hun đúc những hoài bão lớn.
Ngày 5-6-1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên đường sang Pháp với hành trang là vốn tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, đôi bàn tay và một dự định lớn lao: đến tận nơi để tìm hiểu những gì đang diễn ra tại quê hương của cuộc cách mạng tư sản đầu tiên của nhân loại. Để sống và hoạt động cách mạng, Người chấp nhận làm bất cứ công việc lao động chân chính nào từ chạy bàn, phụ bếp, làm bánh tới cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…
Lời giải cho bài toán độc lập, tự do của dân tộc
Gần 10 năm từ ngày xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đến nước Pháp, đi qua nhiều nước châu Phi ven biển Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, từng sống ở Mỹ, Anh. Người được chứng kiến thực tế của xã hội tư bản: “Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta”; “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay nhưng công nông vẫn cứ cực khổ”. Người nhận thức sâu sắc: cách mạng tư sản là cuộc cách mạng vĩ đại nhưng là cuộc cách mạng chưa đến nơi. Cách mạng tư sản giải phóng sức lao động của con người nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Người kết luận: “Chúng ta đổ xương máu làm cách mạng thì sẽ không đi theo con đường cách mạng này”.
![]() |
| Ngôi nhà số 9 ngõ Công Poăng (Pari) nơi Hồ Chủ tịch ở từ năm 1920 đến 1923 Ảnh tư liệu |
Sống hòa mình trong lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, hội họp, viết báo, tuyên truyền, cổ động. Chính từ thực tế cách mạng sinh động ấy, Người tiến gần hơn đến chân lý cách mạng và con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Trong quá trình hình thành nhận thức về con đường cách mạng dân tộc, không thể không nhắc tới sự kiện Nguyễn Ái Quốc gửi bản yêu sách 8 điểm tới hội nghị Vécxây đòi tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam… Bản yêu sách không được chấp nhận nhưng đã vạch trần bản chất lừa bịp của các cường quốc thống trị, giúp Người hiểu rõ, các dân tộc muốn được giải phóng thì chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin đăng trên báo Nhân đạo. Luận cương đã giải đáp những băn khoăn của Người về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cách mạng của Người.
Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập tại Đại học Phương Đông, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp đã đánh dấu bước chuyển nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị, đưa Nguyễn Ái Quốc từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành. Cũng từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản.
Dần hình thành nhận thức và thế giới quan cách mạng khoa học và tìm được con đường đúng đắn giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa cách mạng, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng hệ thống lý luận và tổ chức cách mạng. Quá trình chuẩn bị đó minh chứng vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong việc dùng lý luận soi sáng thực tiễn, đưa cách mạng Việt Nam đi đến thành công…
Đưa lý luận soi sáng con đường cách mạng Việt Nam
Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người tập hợp một số thanh niên Việt Nam yêu nước trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam. Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn Đường Kách mệnh – một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á, chuẩn bị xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng là Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường Kách mệnh (1927).

Bác Hồ tại Đại hội Đảng Cộng sản Pháp (1920)
Cũng trong năm 1925, xuất phát từ thực tế đất nước, Người không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập các tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mácxít để dần đưa Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đến với quần chúng nhân dân. Đó là tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội với nhiệm vụ đào tạo cán bộ cộng sản lãnh đạo và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển của những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
Năm 1930, các tổ chức cộng sản được hợp nhất thành công thành một đảng cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, làm thay đổi về chất cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, tạo nên bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc. Từ bước ngoặt ấy, cách mạng Việt Nam lần lượt giành được những thắng lợi quan trọng từ thành công của cao trào cách mạng 1930 – 1931; phong trào dân chủ 1936 – 1939 và đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, Người viết bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và sự ra đời của Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh đã sáng lập ra Nhà nước cách mạng – Nhà nước của dân, do dân và vì dân, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Mính cũng chính là người đề ra phương châm kháng chiến đúng đắn, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược như “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ kháng chiến và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”… Với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”… Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước và ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong xu thế thời đại, những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đưa đất nước vượt qua những thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài vào năm 1946, làm nên những chiến thắng lẫy lừng như chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chiến thắng mùa xuân năm 1975… Cái tên Việt Nam – Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của khát vọng tự do, hòa bình không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
(Còn tiếp)
Thành Lê tổng hợp

