Mở rộng môi trường không khói thuốc lá – Yêu cầu từ thực tiễn
Chiều 14/10, Báo Pháp luật Việt Nam phối hợp với Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) tổ chức Tọa đàm “Mở rộng môi trường không khói thuốc lá – Yêu cầu từ thực tiễn”. Các chuyên gia đã tập trung phân tích cơ sở khoa học, thực tiễn triển khai và những vấn đề đặt ra trong việc mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà, đặc biệt tại khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch, trong bối cảnh Việt Nam đang xem xét sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá...
Tham gia Tọa đàm có bà Huỳnh Lan Phương – Chuyên gia cao cấp của tổ chức Vital Strategies và ThS.BS Nguyễn Thị Thu Ba – Điều phối viên Chương trình phòng, chống tác hại thuốc lá, Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (C.CIHP).
Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 quy định một số địa điểm công cộng trong nhà, trong đó có khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch, được phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 12 của Luật cũng giao Chính phủ quy định việc chuyển các địa điểm này thành nơi cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà phù hợp với từng thời kỳ.
Sau hơn 13 năm thực hiện Luật, việc duy trì các khu vực hút thuốc riêng tiếp tục đặt ra những vấn đề về bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tổ chức thực thi. Trong khi đó, các bằng chứng khoa học cho thấy không có ngưỡng phơi nhiễm khói thuốc thụ động an toàn; phòng hút thuốc riêng, hệ thống thông gió hoặc lọc khí không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ phơi nhiễm.
Từ những vấn đề trên, các khách mời đã trao đổi về cơ sở khoa học, những bất cập trong quy định hiện hành, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xây dựng khách sạn không khói thuốc tại Việt Nam; đồng thời đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách, mở rộng môi trường 100% không khói thuốc.
Phòng hút thuốc riêng không thể bảo vệ người dân khỏi khói thuốc thụ động
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra với bà Huỳnh Lan Phương – Chuyên gia cao cấp của tổ chức Vital Strategies.

- Thưa bà thì chúng ta thường nhắc đến khái niệm môi trường 100% không khói thuốc, vậy thì bà có thể giải thích rõ hơn thế nào là môi trường 100% không khói thuốc và vì sao Tổ chức y tế thế giới đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng môi trường này tại các địa điểm công cộng trong nhà thưa bà?
Bà Huỳnh Lan Phương: Môi trường 100% không khói thuốc là môi trường trong đó việc hút thuốc và phơi nhiễm với khói thuốc lá được loại bỏ hoàn toàn. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng môi trường này tại các địa điểm công cộng trong nhà bởi đây là những nơi tập trung đông người, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ mang thai, trẻ em và người cao tuổi.
WHO khẳng định không có ngưỡng phơi nhiễm khói thuốc lá nào là an toàn. Vì vậy, để bảo vệ hiệu quả sức khỏe con người, cần loại bỏ việc hút thuốc và phơi nhiễm với khói thuốc tại các địa điểm công cộng trong nhà.
- Tuy nhiên một số ý kiến lại cho rằng việc cần bố trí phòng hút thuốc riêng hoặc là lắp đặt hệ thống thông gió, lọc không khí có thể hạn chế tác hại khói thuốc đối với người xung quanh. Và dưới góc độ pháp lý thì bà đánh giá như thế nào về vấn đề này?
Bà Huỳnh Lan Phương: WHO nhấn mạnh rằng không có ngưỡng phơi nhiễm khói thuốc lá an toàn. Các biện pháp như bố trí phòng hút thuốc riêng, khu vực dành riêng cho người hút thuốc hoặc lắp đặt hệ thống thông gió không bảo đảm loại bỏ hoàn toàn những chất độc hại từ khói thuốc.
Các nghiên cứu quốc tế cho thấy khói thuốc vẫn có thể phát tán ra ngoài phòng hút thuốc riêng. Chẳng hạn, nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) tại một số sân bay ở Mỹ ghi nhận nồng độ bụi mịn PM2.5 ở khu vực xung quanh phòng hút thuốc riêng cao gấp 4 lần so với những khu vực không hút thuốc khác trong sân bay. Các nghiên cứu tương tự tại một số sân bay quốc tế ở Thái Lan cũng ghi nhận tình trạng này.
Về mặt kỹ thuật, sự chênh lệch áp suất không khí giữa bên trong và bên ngoài phòng có thể khiến các chất ô nhiễm phát tán ra khu vực xung quanh. Trong khi đó, theo kết luận của Hiệp hội Kỹ sư Nhiệt lạnh và Điều hòa không khí Hoa Kỳ, hệ thống thông gió chỉ có thể làm loãng không khí ô nhiễm chứ không loại bỏ hoàn toàn các chất độc hại trong khói thuốc.
Những bằng chứng này cho thấy phòng hút thuốc riêng và hệ thống thông gió không phải là giải pháp bảo vệ hiệu quả người xung quanh khỏi khói thuốc thụ động. Chỉ có môi trường 100% không khói thuốc mới bảo đảm được yêu cầu bảo vệ sức khỏe trước nguy cơ này.
- Thưa Ths. Bs. Nguyễn Thị Thu Ba, từ thực tiễn triển khai các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá tại cộng đồng, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ lưu trú, vậy thì bà nhận thấy việc thực hiện các quy định về môi trường không khói thuốc tại khách sạn cơ sở lưu trú hiện nay thì đang diễn ra như thế nào?

Ths.Bs Nguyễn Thị Thu Ba: Việt Nam đã có Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá từ năm 2012, cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện. Bộ Y tế cũng đã ban hành tài liệu hướng dẫn xây dựng khách sạn không khói thuốc từ năm 2015 và cập nhật vào năm 2023.
Từ năm 2023, Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số phối hợp với các cơ quan liên quan, trong đó có Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Ninh Bình, triển khai mô hình khách sạn, cơ sở lưu trú không khói thuốc trên địa bàn tỉnh.
Thời gian đầu, chúng tôi gặp không ít khó khăn. Mặc dù pháp luật đã có quy định nhưng tình trạng khách hút thuốc tại phòng nghỉ, sảnh khách sạn và những khu vực không được phép vẫn khá phổ biến. Nhiều chủ cơ sở lo ngại việc nhắc nhở khách hút thuốc sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, làm mất lòng khách hàng. Một số cơ sở cũng chưa biết phải bắt đầu từ đâu để xây dựng khách sạn không khói thuốc.
Tuy nhiên, qua hơn hai năm triển khai, nhận thức và cách thức thực hiện của các cơ sở tham gia mô hình đã có chuyển biến tích cực. Kết quả khảo sát năm 2026 tại Ninh Bình cho thấy tỷ lệ tuân thủ các quy định về môi trường không khói thuốc tại các khách sạn được khảo sát đạt hơn 70%, so với mức hơn 47% vào năm 2024.
Tại Nghệ An, địa bàn không triển khai can thiệp mô hình, kết quả quan sát cũng ghi nhận tỷ lệ tuân thủ tăng từ khoảng 20% năm 2024 lên hơn 31% trong đợt khảo sát tiếp theo. Những kết quả này cho thấy nhận thức của các cơ sở lưu trú đã có sự thay đổi. Một số khách sạn nhận thấy lợi ích khi xây dựng môi trường không khói thuốc và kinh nghiệm của họ cũng từng bước lan tỏa đến những cơ sở khác.
- Theo số liệu được đề cập trong các báo cáo nghiên cứu thì mỗi năm Việt Nam có khoảng 18.800 ca tử vong liên quan đến khói thuốc thụ động. Đặc biệt là phụ nữ và những người thường xuyên làm việc trong môi trường có khói thuốc là những nhóm chịu ảnh hưởng. Vậy tại sao cần đặc biệt quan tâm bảo vệ người lao động trong các ngành dịch vụ, nhất là nhân viên khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch? Xin mời bà Huỳnh Lan Phương chia sẻ ý kiến.
Bà Huỳnh Lan Phương: Người lao động trong ngành dịch vụ, đặc biệt là nhân viên khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng và quán cà phê, có nguy cơ phơi nhiễm khói thuốc trong thời gian dài, gần như hằng ngày trong suốt quá trình làm việc.
Trong khi khách hàng thường chỉ lưu trú vài ngày hoặc có mặt tại nhà hàng, quán cà phê trong vài giờ, nhân viên có thể phải làm việc từ 8 đến 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Vì vậy, thời gian tiếp xúc với khói thuốc của họ thường kéo dài hơn nhiều.
Đáng chú ý, phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động tại những cơ sở này. Việc thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung mà còn có thể tác động đến sức khỏe sinh sản. Đối với phụ nữ mang thai, phơi nhiễm khói thuốc còn có nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi.
Do đó, việc bảo vệ người lao động trong các ngành dịch vụ cần được đặc biệt quan tâm. Xây dựng môi trường 100% không khói thuốc tại những địa điểm này là giải pháp cần thiết để hạn chế nguy cơ phơi nhiễm và bảo vệ sức khỏe người lao động.
Hơn 13 năm thực hiện Luật, đã đến lúc xóa bỏ "ngoại lệ" về khu vực hút thuốc riêng
- Luật phòng chống tác hại của thuốc lá năm 2012, một số địa điểm như là khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch, khu vực cách ly sân bay, tàu thuỷ và tàu hoả thì vẫn được phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc. Tuy nhiên, ngay từ khi ban hành Luật đã dự liệu về việc chuyển đổi những địa điểm này thành nơi cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà phù hợp với từng thời kì. Vậy sau hơn một thập kỷ thì đã đến lúc Việt Nam cần thực hiện bước chuyển đổi này hay chưa?.
Liên quan đến vấn đề này, Điều 12 Luật phòng chống tác hại của thuốc lá năm 2012 vẫn cho phép một số địa điểm công cộng trong nhà trong đó có khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch bố trí nơi hút thuốc riêng. Vậy theo bà Huỳnh Lan Phương, quy định này hiện còn phù hợp với yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng hay không và những bất cập nếu có phải khắc phục thế nào?
Bà Huỳnh Lan Phương: Theo đánh giá của chúng tôi, quy định tại Điều 12 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá là một trong những khoảng trống lớn so với các khuyến nghị của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của WHO. Việc tiếp tục cho phép bố trí khu vực hút thuốc riêng tại một số địa điểm công cộng trong nhà chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ toàn diện sức khỏe người dân.
Các cuộc điều tra, khảo sát gần đây của Bộ Y tế cũng cho thấy tỷ lệ phơi nhiễm khói thuốc tại những địa điểm công cộng vẫn ở mức cao. Theo kết quả điều tra năm 2024, tỷ lệ phơi nhiễm khói thuốc trên phương tiện giao thông công cộng là 23%, tại quán cà phê, giải khát gần 60% và tại nhà hàng, quán ăn trên 67%.
Trong khi đó, nhiều quốc gia trong khu vực đã mở rộng quy định cấm hút thuốc. Thái Lan, Brunei, Myanmar và Lào đã áp dụng quy định cấm hút thuốc toàn diện tại các địa điểm công cộng trong nhà. Campuchia cũng áp dụng quy định tương tự nhưng vẫn còn ngoại lệ đối với phòng hút thuốc tại sân bay. Singapore, Philippines và Trung Quốc còn hướng tới mở rộng phạm vi cấm hút thuốc tại các khu vực công cộng ngoài trời.
Việc duy trì các ngoại lệ hiện nay đặt ra ba bất cập. Trước hết, người dân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi, chưa được bảo vệ hiệu quả trước khói thuốc thụ động. Thứ hai, các cơ sở kinh doanh phải phát sinh thêm chi phí vệ sinh, xử lý mùi thuốc lá, đồng thời có thể chịu ảnh hưởng về nhân lực khi người lao động bị bệnh do phơi nhiễm khói thuốc.
Bất cập thứ ba là khó khăn trong thực thi pháp luật. Khi có địa điểm được phép bố trí phòng hút thuốc riêng và địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn, việc nhận biết, kiểm tra và xử lý vi phạm trở nên phức tạp hơn. Nếu các địa điểm công cộng trong nhà đều áp dụng quy định cấm hút thuốc hoàn toàn, việc tổ chức thực hiện và giám sát sẽ rõ ràng, thuận lợi hơn. Từ những lý do đó, chúng tôi cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần xem xét thay đổi quy định này để bảo vệ tốt hơn sức khỏe người dân.
- Từ góc độ một tổ chức trực tiếp triển khai các hoạt động tại cộng đồng thì bà Thu Ba đánh giá thế nào về tính khả thi của việc xây dựng khách sạn cơ sở lưu trú 100% không khói thuốc tại Việt Nam? Theo bà, cần những điều kiện nào để được chuẩn bị để cho các cơ sở thực hiện được hiệu quả?
ThS.BS. Nguyễn Thị Thu Ba: Từ thực tiễn triển khai tại Ninh Bình, chúng tôi nhận thấy việc xây dựng khách sạn, cơ sở lưu trú 100% không khói thuốc hoàn toàn có tính khả thi. Không chỉ những cơ sở tham gia dự án, kết quả khảo sát tuân thủ vào tháng 4 vừa qua còn ghi nhận một số khách sạn nhỏ, mới hoạt động đã chủ động thực hiện môi trường không khói thuốc hoàn toàn trong nhà.
Tháng 12/2025, Báo Văn hóa phối hợp với Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá tổ chức vinh danh 44 khách sạn tiêu biểu không khói thuốc, trong đó có một khách sạn được dự án của chúng tôi hỗ trợ.
Ban đầu, cơ sở này còn khá e ngại khi triển khai mô hình. Tuy nhiên, sau quá trình thực hiện, đơn vị nhận thấy những lợi ích về vệ sinh môi trường, chất lượng dịch vụ và không ghi nhận việc giảm lượng khách như lo ngại trước đó.
Theo tôi, để chuyển sang môi trường 100% không khói thuốc trong các cơ sở lưu trú du lịch, cần có lộ trình phù hợp với từng loại hình. Bởi hệ thống cơ sở lưu trú tại Việt Nam rất đa dạng, từ khách sạn lớn, khu nghỉ dưỡng đến khách sạn nhỏ, nhà nghỉ và nhà khách. Có thể ưu tiên những nhóm cơ sở có sự cam kết mạnh mẽ, sau đó từng bước mở rộng để bảo đảm tính khả thi.
Từ kinh nghiệm triển khai, chúng tôi nhận thấy sự cam kết của chủ cơ sở là yếu tố quan trọng hàng đầu. Khi xác định môi trường không khói thuốc là một phần trong tiêu chuẩn dịch vụ, chủ khách sạn sẽ chủ động ban hành nội quy, phân công người phụ trách và giám sát thực hiện. Tiếp đó, cơ sở cần phổ biến quy định cho toàn bộ nhân viên và thông báo rõ cho khách hàng ngay từ khi đặt phòng hoặc nhận dịch vụ. Khách sạn cũng phải chuẩn bị quy trình vận hành cụ thể, xác định vị trí đặt biển báo, cách thức giám sát và báo cáo nội bộ.
Một yêu cầu quan trọng khác là tập huấn cho nhân viên, nhất là kỹ năng xử lý tình huống khi khách vi phạm quy định cấm hút thuốc. Việc nhắc nhở phải bảo đảm khách hợp tác nhưng vẫn giữ được chất lượng phục vụ.
Cuối cùng, các cơ sở cần thường xuyên tự đánh giá kết quả thực hiện. Về phía cơ quan quản lý, cần có hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ và biểu dương những đơn vị thực hiện tốt.

Khách sạn 100% không khói thuốc: Không phải rào cản kinh doanh
- Một trong những lo ngại thường được đặt ra là việc cấm hút thuốc hoàn toàn trong khách sạn có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đặc biệt đối với các cơ sở phục vụ nhiều khách du lịch quốc tế. Bà Huỳnh Lan Phương có thể cho biết, kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai chính sách này cho thấy điều gì về tác động đối với ngành du lịch và dịch vụ lưu trú?
Bà Huỳnh Lan Phương: Kinh nghiệm tại nhiều quốc gia cho thấy việc xây dựng môi trường 100% không khói thuốc tại các cơ sở dịch vụ, lưu trú không làm ảnh hưởng đến doanh thu như những lo ngại ban đầu. Ngược lại, chính sách này còn góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động và giảm chi phí vận hành của cơ sở kinh doanh.
Chẳng hạn, một nghiên cứu tại Ireland ghi nhận nồng độ cotinine trong nước bọt của nhân viên quán bar giảm rõ rệt sau khi áp dụng quy định cấm hút thuốc, so với các quốc gia chưa thực hiện quy định tương tự. Điều này cho thấy mức độ phơi nhiễm với khói thuốc của người lao động đã giảm.
Một nghiên cứu tại Thái Lan, thực hiện trong giai đoạn 2005 - 2006 và công bố năm 2009, cho thấy 38,6% khách du lịch được khảo sát cho biết quy định cấm hút thuốc trong khách sạn không ảnh hưởng đến quyết định quay lại lưu trú. Trong khi đó, khoảng 8% cho biết sẽ không quay lại nếu khách sạn cấm hút thuốc.
Những kết quả này cho thấy không phải khách du lịch nào cũng phản đối quy định cấm hút thuốc. Nhiều người mong muốn được nghỉ ngơi, trải nghiệm trong môi trường trong lành, không có khói thuốc.
Tại Việt Nam, các loại hình du lịch sức khỏe, du lịch sinh thái đang phát triển. Theo tôi, môi trường không khói thuốc có thể trở thành một yếu tố nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo lợi thế cạnh tranh cho các khách sạn, cơ sở lưu trú thay vì chỉ được nhìn nhận như một yêu cầu tuân thủ pháp luật.
- Trong những năm qua, nhiều quốc gia đã mở rộng quy định cấm hút thuốc hoàn toàn tại các địa điểm công cộng trong nhà. Bà có thể chia sẻ một số kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các quốc gia ASEAN, trong việc xây dựng môi trường không khói thuốc tại khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch?

Bà Huỳnh Lan Phương: Một số quốc gia ASEAN đã có những cách làm đáng tham khảo trong xây dựng môi trường không khói thuốc tại cơ sở lưu trú du lịch.
Tại Campuchia, Bộ Du lịch đã ban hành quy trình vận hành tiêu chuẩn tối thiểu về môi trường không khói thuốc trong ngành du lịch. Trong đó, quy định rõ những khu vực cấm hút thuốc tại khách sạn, bao gồm cả phạm vi 5m tính từ cửa ra vào. Các cơ sở phải đặt biển cấm hút thuốc, không bố trí gạt tàn trong khu vực cấm và có trách nhiệm nhắc nhở, thông báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện trường hợp không chấp hành.
Tại Singapore, Cơ quan Môi trường quốc gia quy định sảnh khách sạn là khu vực cấm hút thuốc, kể cả những sảnh không sử dụng điều hòa. Phạm vi cấm còn được mở rộng tối thiểu 5 mét từ cửa chính. Người quản lý có trách nhiệm nhắc nhở và yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi hút thuốc.
Điểm chung trong cách làm của các quốc gia này là quy định cụ thể phạm vi cấm hút thuốc, xác định rõ những khu vực được phép hút thuốc và gắn trách nhiệm thực hiện với người quản lý cơ sở lưu trú. Theo tôi, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm này khi hoàn thiện chính sách, nhằm giúp người dân, khách du lịch và các cơ sở kinh doanh dễ nhận biết, thực hiện và giám sát quy định.
Sửa Luật cần quy định rõ lộ trình và trách nhiệm của người đứng đầu
- Thưa hai vị khách mời, hai vị nghĩ thể nào nếu Việt Nam sửa đổi Luật theo hướng chuyển khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch thành địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà?
ThS.BS. Nguyễn Thị Thu Ba: Theo tôi, để quy định có tính khả thi, trước hết cần xác định rõ phạm vi áp dụng đối với các loại hình cơ sở lưu trú du lịch. Đồng thời, phải xây dựng lộ trình thực hiện hợp lý cho từng nhóm cơ sở, quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực và thời gian chuyển tiếp để các đơn vị chủ động chuẩn bị.
Thứ hai, cần có hướng dẫn thực hiện cụ thể. Luật có thể quy định những nguyên tắc chung, còn các văn bản hướng dẫn cần làm rõ yêu cầu về biển báo, vị trí đặt biển, khu vực hút thuốc ngoài trời và tiêu chí giám sát. Nội dung hướng dẫn phải phù hợp với quy mô, điều kiện thực tế của từng nhóm cơ sở, tránh áp dụng những yêu cầu quá phức tạp đối với khách sạn, nhà nghỉ quy mô nhỏ.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế thực thi, kiểm tra và giám sát rõ ràng, với những tiêu chí thống nhất để cơ quan quản lý có căn cứ đánh giá, đồng thời giúp các cơ sở tự kiểm tra mức độ tuân thủ.
Bà Huỳnh Lan Phương: Tôi đồng tình với những ý kiến của bà Thu Ba và muốn bổ sung một số vấn đề.
Trước hết, cần bảo đảm nguồn lực tài chính cho công tác tổ chức thực hiện, kiểm tra và xử lý vi phạm. Đồng thời, có thể nghiên cứu cơ chế xử phạt qua hình ảnh, thiết bị ghi hình đối với hành vi vi phạm quy định về môi trường không khói thuốc, tương tự việc ứng dụng hệ thống camera trong quản lý giao thông và an ninh, trật tự hiện nay.
Một vấn đề quan trọng khác là phải quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở. Thực tế, một trong những khó khăn hiện nay là việc phát hiện và xử phạt người trực tiếp hút thuốc tại địa điểm cấm.
Theo tôi, cần tăng cường trách nhiệm của chủ cơ sở, người quản lý trong việc bảo đảm môi trường không khói thuốc tại địa điểm do mình quản lý. Nếu để xảy ra vi phạm mà không thực hiện trách nhiệm theo quy định thì cần có cơ chế xử lý đối với hành vi vi phạm của chủ cơ sở, người quản lý. Cách tiếp cận này sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
- Để chính sách môi trường không khói thuốc được thực hiện hiệu quả, theo bà Huỳnh Lan Phương, cần có cơ chế phối hợp như thế nào giữa ngành y tế, ngành du lịch, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội? Đặc biệt, cần làm gì để việc thực hiện không chỉ dừng lại ở các cam kết mà trở thành hoạt động thường xuyên tại các cơ sở lưu trú?
Bà Huỳnh Lan Phương: Để chính sách được thực hiện hiệu quả, cần có cơ chế phối hợp liên ngành thường xuyên, trong đó trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị phải được xác định rõ.
Ngành Y tế có vai trò hướng dẫn chuyên môn, xây dựng tiêu chí môi trường không khói thuốc và nghiên cứu, đánh giá tác động. Ngành Du lịch cần đưa việc chấp hành quy định không hút thuốc tại cơ sở lưu trú vào hoạt động quản lý, thanh tra, kiểm tra, đồng thời xem xét bổ sung tiêu chí này vào hệ thống đánh giá, xếp hạng khách sạn.
Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội, hiệp hội du lịch có thể vận động, huy động các khách sạn và doanh nghiệp thành viên cùng tham gia xây dựng môi trường không khói thuốc.
Tôi cũng cho rằng cần thay đổi nhận thức của các cơ sở kinh doanh. Thay vì coi môi trường không khói thuốc là một gánh nặng về tuân thủ pháp luật, khách sạn cần nhìn nhận đây là yếu tố nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng cạnh tranh. Khi thấy rõ lợi ích, các cơ sở sẽ chủ động và tích cực hơn trong quá trình thực hiện.
- Từ kinh nghiệm triển khai thực tế, theo Ths.Bs Thu Ba, cần có những giải pháp gì để khuyến khích và hỗ trợ cho các khách sạn, các cơ sở lưu trú du lịch chủ động xây dựng môi trường không khói thuốc ngay cả khi chưa có quy định bắt buộc cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà; và các khách sạn nên tổ chức thực hiện và hướng dẫn nhân viên như thế nào để vừa bảo đảm quy định không khói thuốc vừa giữ được chất lượng phục vụ và sự hài lòng của khách hàng?

ThS.BS. Nguyễn Thị Thu Ba: Từ kinh nghiệm triển khai tại địa phương, chúng tôi nhận thấy cần giúp các chủ khách sạn hiểu rằng xây dựng môi trường không khói thuốc không chỉ là trách nhiệm tuân thủ pháp luật mà còn mang lại lợi ích cho chính cơ sở kinh doanh. Môi trường không khói thuốc giúp bảo vệ sức khỏe khách hàng, nhân viên, giảm chi phí vệ sinh và góp phần xây dựng hình ảnh khách sạn chuyên nghiệp, thu hút khách du lịch.
Để khuyến khích các cơ sở thực hiện, trước hết cần có sự phối hợp giữa ngành Y tế, Du lịch, Văn hóa và chính quyền địa phương. Các cơ quan có thể tổ chức diễn đàn, hoạt động vận động những khách sạn tiên phong tham gia và ký cam kết xây dựng môi trường không khói thuốc.
Tiếp đó, cần tăng cường chia sẻ những mô hình đã triển khai hiệu quả, giúp các cơ sở khác học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời, xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn cụ thể, phù hợp với từng loại hình, quy mô cơ sở lưu trú, từ cách xây dựng nội quy, bố trí biển báo đến quy trình xử lý tình huống khi khách vi phạm.
Chẳng hạn, ngoài biển cấm hút thuốc, một số khách sạn còn thông báo trước về khoản phí vệ sinh có thể phát sinh nếu khách hút thuốc trong phòng. Đây là cách để khách hàng biết rõ quy định và cân nhắc hành vi của mình.
Các tiêu chí đánh giá cũng cần sát với thực tế, tránh yêu cầu những khách sạn nhỏ phải có đầy đủ hệ thống kế hoạch, hồ sơ như các khách sạn lớn. Bên cạnh đó, cần có cơ chế ghi nhận, biểu dương những cơ sở thực hiện tốt để tạo động lực cho các doanh nghiệp khác tham gia.
Về công tác kiểm tra, có thể phối hợp, lồng ghép với các hoạt động kiểm tra chuyên ngành như phòng cháy, chữa cháy, y tế hoặc bảo vệ môi trường nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Đối với từng khách sạn, Bộ Y tế đã có tài liệu hướng dẫn xây dựng môi trường không khói thuốc từ năm 2015 và bản cập nhật năm 2023. Theo đó, các cơ sở có thể triển khai theo năm bước cơ bản.
Trước hết, chủ cơ sở phải cam kết thực hiện và ban hành nội quy về môi trường không khói thuốc. Tiếp theo, phổ biến quy định đến nhân viên và thông báo rõ cho khách hàng ngay từ khi đặt phòng hoặc làm thủ tục nhận phòng. Một số khách sạn tại Ninh Bình còn đưa nội dung cam kết không hút thuốc vào phiếu nhận phòng, đồng thời bố trí điểm hút thuốc ngoài trời, cách xa tòa nhà.
Bước tiếp theo là tập huấn cho nhân viên, đặc biệt về kỹ năng xử lý tình huống khi khách vi phạm, bảo đảm việc nhắc nhở phù hợp để khách hợp tác mà vẫn giữ được chất lượng phục vụ. Sau đó, cơ sở triển khai các biện pháp cụ thể như đặt biển báo, xác định phạm vi cấm hút thuốc và bố trí khu vực hút thuốc ngoài trời nếu phù hợp.
Cuối cùng là giám sát, đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời điều chỉnh những nội dung chưa phù hợp. Trong quá trình này, các cơ sở, nhất là khách sạn nhỏ, vẫn cần được hỗ trợ kỹ thuật để có thể áp dụng hướng dẫn vào hoạt động thực tế.

- Từ kinh nghiệm thực tiễn tại Ninh Bình, bà muốn gửi thông điệp gì đến các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch trên cả nước về lợi ích và trách nhiệm xây dựng môi trường không khói thuốc, thưa Ths.BS Nguyễn Thị Thu Ba?
ThS.BS. Nguyễn Thị Thu Ba: Từ thực tiễn triển khai mô hình tại Ninh Bình, chúng tôi muốn gửi tới các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch thông điệp rằng xây dựng môi trường không khói thuốc là việc hoàn toàn có thể thực hiện được, nếu có sự quyết tâm và cam kết của chủ cơ sở.
Xây dựng khách sạn không khói thuốc không chỉ là thực hiện quy định pháp luật mà còn là bước tiến hướng tới phát triển du lịch xanh, du lịch bền vững, phù hợp với xu hướng của ngành du lịch quốc tế.
Khi được triển khai nhất quán, môi trường không khói thuốc sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe nhân viên, du khách, đồng thời xây dựng hình ảnh cơ sở lưu trú chuyên nghiệp, văn minh và đóng góp vào sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
- Nếu được đưa ra một khuyến nghị quan trọng nhất đối với các cơ quan xây dựng chính sách trong quá trình sửa đối Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, nhằm thúc đẩy môi trường 100% không khói thuốc tại khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch, bà Huỳnh Lan Phương sẽ nhấn mạnh điều gì?
Bà Huỳnh Lan Phương: Khuyến nghị quan trọng nhất mà tôi muốn nhấn mạnh là cần mở rộng môi trường 100% không khói thuốc tại các địa điểm công cộng trong nhà, đặc biệt là khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch.
Đây là bước đi cần thiết để bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người, nhất là phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi và người có sức khỏe yếu. Đồng thời, việc mở rộng môi trường không khói thuốc cũng sẽ giúp pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá của Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của WHO.