Mô hình liên kết canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp

Mô hình liên kết canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp
Máy gieo sạ khí động kết hợp vùi phân tại mô hình vùng liên kết ở xã Phương Thịnh. (Ảnh: Lê Sơn)

(PLVN) - Mô hình gồm đầy đủ các mắt xích của chuỗi giá trị, từ hợp tác xã (HTX), nông dân, đơn vị cung ứng vật tư nông nghiệp, DN cơ giới hóa, DN thu mua, đến hệ thống đánh giá và chứng nhận gạo Việt Xanh phát thải thấp.

Mô hình quy tụ đủ các mắt xích của chuỗi giá trị

Tại HTX Toàn Thịnh (xã Phương Thịnh, tỉnh Đồng Tháp), Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phối hợp Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), Sở NN&MT cùng chính quyền địa phương vừa tổ chức Lễ khởi động “Vùng liên kết 1 triệu ha canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp”. Đây được coi là sự hình thành chính thức của một “vùng liên kết”, nơi các chủ thể trong chuỗi giá trị lúa gạo cùng tham gia, cùng cam kết và hưởng lợi từ một quy trình sản xuất thống nhất.

Đây là mô hình liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, góp phần tạo nền tảng để hiện thực hóa Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Vụ sản xuất đầu tiên trong khuôn khổ vùng liên kết sẽ được triển khai ngay tại HTX Toàn Thịnh.

Mô hình gồm đầy đủ các mắt xích của chuỗi giá trị, từ HTX, nông dân, đơn vị cung ứng vật tư nông nghiệp, DN cơ giới hóa, DN thu mua, đến hệ thống đánh giá và chứng nhận gạo Việt Xanh phát thải thấp.

Nền tảng kỹ thuật của mô hình là công nghệ cơ giới hóa sạ hàng hiệu ứng hàng biên kết hợp vùi phân. Theo quy trình, hạt giống được vùi ở độ sâu 1 - 2mm, trong khi phân bón được đưa xuống tầng đất từ 3 - 4cm. Việc bố trí hàng rộng xen hàng hẹp giúp ruộng lúa thông thoáng hơn, tăng khả năng quang hợp, giảm áp lực sâu bệnh.

Không chỉ giúp cây lúa sinh trưởng khỏe mạnh hơn, phương pháp này còn làm giảm đáng kể lượng giống gieo so với hình thức sạ lan truyền thống. Hiệu quả sử dụng phân bón được nâng cao, cây lúa cứng cáp hơn, hạn chế đổ ngã, giảm thất thoát sau thu hoạch. Các cải tiến kỹ thuật này cũng góp phần giảm phát thải khí nhà kính trong quá trình canh tác lúa.

PGS. TS Nguyễn Văn Hùng, Trưởng Ban Cơ giới sau thu hoạch của IRRI cho rằng, sạ hàng kết hợp vùi phân không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mà còn là sự thay đổi trong tư duy sử dụng đầu vào. Với việc kết hợp gieo sạ chính xác, vùi phân ở độ sâu tối ưu, quản lý nước hiệu quả, bón phân theo vùng chuyên biệt, quản lý dịch hại tổng hợp, xử lý rơm rạ theo hướng nông nghiệp tuần hoàn; có thể giảm chi phí đầu vào, giảm phát thải, tăng năng suất, lợi nhuận và giá trị gia tăng từ rơm rạ.

Tất cả cùng có lợi

Trong mô hình này, máy gieo sạ khí động kết hợp vùi phân được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu của đề án. Máy có khả năng điều chỉnh lượng giống phù hợp với từng điều kiện sản xuất, qua đó giúp giảm lượng giống gieo sạ. Phương pháp gieo theo hiệu ứng hàng biên với bố trí hàng rộng, hàng hẹp giúp cây lúa nhận được nhiều ánh sáng hơn, tăng khả năng quang hợp, sinh trưởng khỏe, cứng cây, hạn chế đổ ngã. Môi trường ruộng lúa thông thoáng hơn cũng giúp giảm sâu bệnh, từ đó giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Một ưu điểm khác là trong quá trình gieo sạ, máy thực hiện đồng thời việc vùi phân ngay tại vùng rễ, giúp hạn chế thất thoát phân bón, nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng. Phân được đưa xuống đất ngay từ đầu vụ nên luôn sẵn sàng cung cấp dưỡng chất cho cây lúa, đặc biệt trong giai đoạn đẻ nhánh, giúp cây phát triển mạnh ngay từ những ngày đầu.

Cơ giới hóa khâu gieo sạ còn giúp nâng cao năng suất lao động nhiều lần so với phương thức thủ công. Máy thực hiện đồng thời hai công đoạn gieo sạ và vùi phân với lượng phân tương đương hai lần bón đầu trong quy trình canh tác thông thường, qua đó giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất.

PGS. TS Nguyễn Văn Hùng cho biết, từ những mô hình thí điểm do IRRI phối hợp Bộ NN&MT triển khai, nhiều DN, HTX nhận thấy hiệu quả nên đã hưởng ứng, tự bố trí nguồn lực tham gia xây dựng vùng liên kết. Việc DN đồng hành trực tiếp với các HTX, đưa kỹ thuật xuống tận đồng ruộng và hỗ trợ nông dân suốt quá trình sản xuất sẽ góp phần mở rộng mô hình một cách thực chất, tránh tình trạng phát triển theo phong trào nhưng thiếu hiệu quả lâu dài. Từ phía người sản xuất, khi tham gia mô hình, nông dân không còn đơn độc mà được hỗ trợ đồng bộ từ kỹ thuật, vật tư, máy móc đến đầu ra sản phẩm, tạo cơ hội nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh, giảm phát thải, việc hình thành các vùng liên kết quy mô lớn được đánh giá là hướng đi phù hợp cho ngành hàng lúa gạo Việt Nam; kết hợp từ kỹ thuật canh tác với DN tiêu thụ, gắn với các tiêu chuẩn phát thải thấp, để lúa gạo đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế.

Trần Tiến