"Mờ ám" chuyện trai Mông đi bắt vợ

Tục bắt vợ ở người Mông vẫn còn đó và để lại nhiều nét thú vị khi quan khách được chứng kiến. và cùng nghe chuyện bắt vợ của họ.

Tục bắt vợ ở người Mông vẫn còn đó và để lại nhiều nét thú vị khi quan khách được chứng kiến. và cùng nghe chuyện bắt vợ của họ.
 
Mô tả ảnh.
Đưa cô dâu về nhà mới
Trong một lần đi công tác, tôi có quen một anh bạn người Mông. Anh tên là Vàng A Sơng, ở Mường Lát. Anh này không chỉ nói tiếng Kinh rất thạo mà còn biết bập bẹ vài tiếng ngoại ngữ nữa.

Khả năng hiểu biết về văn hoá các dân tộc là tương đối đáng nể. Vào một ngày đẹp trời, Sơng gọi cho tôi để đề nghị lên Mường Lát "bắt vợ". Tôi ậm ờ từ chối mãi không xong, đành quay ra thuyết giáo y về việc bắt bớ là vi phạm pháp luật, nhưng anh ta cười một cách đôn hậu và phán: "Đúng là đồ thành thị nguyên khối!?”.

Bị châm, tôi nóng hết cả tai, ngẫm lại, cái tục lệ ấy có từ xa xưa, tồn tại được đến nay chắc phải có một ma lực gì ghê gớm lắm.

Mường Lát là huyện tận cùng trên phía Bắc của tỉnh Thanh, từ thành phố lên đến đây phải trên 200 cây số. Dân tộc Mông đứng vị trí thứ 2 trong cộng đồng các dân tộc thiểu số huyện này.

Với khoảng trên 13 nghìn nhân khẩu, phân bố ở 42 bản. Người Mông ở theo khu vực, Pù Nhì có người Mông trắng, Trung Lý có người Mông đen, ở Mường Lý có người Mông Hoa.

Do tập quán, phương thức sinh hoạt, người Mông thường sinh sống trên các vùng núi cao, hẻo lánh. Chính vì sinh sống trong hoàn cảnh như vậy mà người Mông có tính độc lập, cần cù, chịu khó. Khi đã là bản sắc của dân tộc thì thay đổi rất khó, điều này được thể hiện rõ ở tục “bắt vợ” trong lễ cưới.

Hắn (anh chàng đang rủ tôi đi bắt vợ, tôi vẫn nghi có gì mờ ám) đón tôi ở Pù Nhì, bạn bè gặp nhau tranh thủ vào quán làm vài "quai" lấy lại khí thế. Vừa cà kê chén rượu khê, hắn vừa giảng giải: "Bắt vợ chỉ là một sự tượng trưng, có tính đặc thù. Người bị bắt đã được thông báo trước, thậm chí hai bên gia đình đã tường tận về việc này. Rất ít trường hợp ép duyên.

Gia đình nhà trai chuẩn bị từ trước các đồ lễ, chọn ngày lành, tháng tốt... Đối với cô dâu, trong ngày trọng đại ấy, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc bắt dâu được diễn ra thuận buồm xuôi gió. Tôi với nàng đã ưng cái bụng nhau lâu rồi. Hôm đi xem, thầy phán ngày đó là ngày tốt, cướp vợ thì trăm năm hạnh phúc, cuộc sống ấm no”.

Anh chàng này (giờ y là người đường hoàng, gọi hắn e không tiện) tương luôn một mạch, tôi gật gù như đã hiểu chuyện. Sau vài be, tôi cùng về nhà bạn nghỉ ngơi để chuẩn bị cho việc đại sự ngày mai.

Khi những tia nắng đầu tiên vừa lao mình xuống mặt đất, những đám mây đang quấn mình trong trạng thái miên man, Sơng đã lôi tôi dậy. Từ nhà trai tới nhà cô gái phải băng qua 3 quả đồi, 2 con suối và một quãng đường đồng.

Vào khoảng gần trưa, cô gái đang nhẹ nhàng đưa những lát chổi, mắt hướng về phía xa xa như đang ngóng đợi điều gì. Anh bạn tôi từ phía sau, trùm tấm vải lên đầu cô gái rồi vác đi. Quả nhiên anh, chị phối hợp với nhau khá ăn ý.

Đi ra khỏi nhà một đoạn, chàng bỏ nàng xuống để tự đi, gần vào nhà chàng mới lại vác tiếp. Chàng trai mang cô gái mà mình thương yêu từ bấy lâu nay về nhà xuất trình với gia đình. Một mặt bố mẹ chồng mở cửa đón con dâu mới, một mặt cho người nhà sang bên họ gái thông báo tin này.

Bố mẹ chồng sẽ dặn dò con dâu mới, bố trí chỗ ăn ngủ cho đôi vợ chồng trẻ. Nhà trai sẽ làm thịt một đôi gà để làm vía cho 2 vợ chồng mới, mời họ hàng tới bàn bạc, thống nhất ngày cưới. Khi bắt được dâu, nhà trai tiến hành cúng tổ tiên trong nhà, ở cửa cúng gọi vía.

Đôi gà sau khi làm vía cho đôi vợ chồng, mới dùng để thắp hương báo cáo với ông bà tổ tiên. Trong lễ làm vía, người ta đánh cồng và gọi vía với mong muốn từ nay vợ chồng sống hạnh phúc, khoẻ mạnh, không rời bỏ nhau. Xong xuôi đâu ra đó, cô gái được "phóng thích".

3 ngày sau vụ bắt vợ, nhà trai cử một đoàn đại diện cho dòng họ mình sang thưa chuyện với nhà gái. Trong lễ cưới chính, nhà trai cử đoàn đại diện sang nhà gái để làm lễ cưới. Điều đặc biệt của đoàn này là con số bao giờ cũng chẵn 8, 10, 12... người.

Khi làm lễ tại nhà gái, mỗi bên gia đình một người đại diện ngồi lên ghế để làm thủ tục. Bố mẹ vợ chỉ tiễn con gái ra khỏi cửa, một mình cô dâu tiếp bước về nhà chồng.

Trước đây, lễ cưới của gia đình người Mông rất nặng phần thách cưới, dẫn tới con trai nhà nghèo rất khó lấy được vợ. Khi thực hiện nếp sống văn hoá mới, trong lễ cưới nhà trai chỉ phải đem tới nhà gái 52 bát rượu, 1 con lợn và một ít tiền mặt cho nhà gái thết đãi họ hàng, thôn, bản. Trong cuộc sống gia đình, người Mông rất tình nghĩa, hoà thuận.

Họ không chỉ ràng buộc về mặt pháp lý (họ hàng, thôn, bản công nhận), mà còn ràng buộc về mặt tâm linh. Do vậy mà rất hiếm khi có đôi vợ chồng người Mông nào đứt gánh giữa đường.

Trong gia đình người Mông, phụ nữ đóng vai trò quan trọng nhất. Khi có công việc gì trọng đại, cần có sự bàn bạc thống nhất giữa 2 vợ chồng, thông thường người vợ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng. Khi có khách tới nhà, chỉ có người chồng được tiếp đón, trừ khi trong bữa cơm chồng hay khách yêu cầu, người vợ mới được ra ngoài chúc rượu.

Ngẫm lại mới thấy kho tàng văn hoá các dân tộc thiểu số thật đồ sộ. Nếu những nét văn hoá độc đáo ấy không được lưu giữ, bảo tồn sẽ bị phai nhạt, hỗn tạp, bị lợi dụng một cách đáng chê trách.
 
Theo Đời Sống & Pháp Luật