Miền Bắc thế kỷ 19 trong mắt học giả Trương Vĩnh Ký

(PLO) - Trong ấn bản trong Bulletin de la Société des études indochinoises (nouvelles séries, tome III, No 3, Saigon 1929), học giả Trương Vĩnh Ký đã có những hồi ức thú vị về miền Bắc quãng thời gian thế kỷ 19.
Con đường chính của Hà Nội bên hồ Gươm năm 1900 Con đường chính của Hà Nội bên hồ Gươm năm 1900

Phong tục tập quán xưa

Năm 1876, một chức vụ cao cấp như Trương Vĩnh Ký, khi tới Hải Phòng rồi lại lên Hà Nội như thế nào, xin ghi lại một số đoạn ở phần đầu:

Tới Hải Phòng: “Lên bờ đi tham quan lãnh sự (M. Rure), rồi qua bên kia sông tới trọ nhà chú khách Wan Sing. Sáng bữa sau lại qua ăn cơm nhà quan lãnh sự, rồi đi thăm các thày làm việc ở đó cho luôn.” 

Lên Hải Dương: “Tối lại, đi theo thuyền ông Thương biện Lương quen khi đi sứ bên Tây năm 1863 mà lên tỉnh Hải dương, 27 tới tỉnh. Vào thành ra mắt quan lớn là ông Phạm Phú Thứ làm Thương chánh Đại thần kiêm Tổng đốc tỉnh Hải Dương và tỉnh Quảng Yên, có quen thuở đi sứ bên Tây. Người mừng rỡ lắm. Nội ngày cũng tới viếng ông Tuần phủ Nguyễn Doãn, nguyên trước có quen khi người vô giao hòa lần sau tại Gia định.”

Đi lên Hà Nội: “Các quan lại cầm ở lại đó ăn tết rồi hãy lên Hà Nội, khi ấy là mùa đông, trời rét lạnh nên ăn ngon cơm lắm. Mấy bữa ấy, hội các quan lớn nhỏ đủ mặt, khi ăn uống chuyện vãn cả đêm cả ngày. Quan lại lại bày rạp hát cho ba bữa luôn, coi hát bội cho no, rồi lại hát nhà trò.

Vui vầy với nhau thể ấy cho tới mùng 6 tết, chiều giờ thứ nhứt mới lên võng lên cáng mà đi đường bộ lên Hà Nội. Trước hết nghỉ chơn tại cái chùa kia. Mặt trời lặn tới huyện Cẩm Giàng. Ông Huyện tên là Dương Xuân ra rước vô nhà ngủ đó. Sáng, cơm nước rồi, giờ thứ tám từ giã ra đi.”

Vốn là một học giả có trí nhớ tốt, quan sát cao, cái gì cũng muốn biết tận mắt nghe tận tai, nên Trương Vĩnh Ký đã ghi lại cho hậu sinh nhiều điều đáng chú ý về phong tục tập quán.

Ghi về Hà Nội, ông nhận xét kỹ y phục thời đó như sau: “Đàn ông ăn mặc cũng thường, đầu hay đội nón ngựa, bịt khăn đen. Đàn bà mặc áo có thắt lưng làm bìu (bọc), yếm đỏ, không gài nút nịt, nút vai thả không ra mà thôi, đầu đội nón giấu (ba tầm) lớn gần bằng cái nia, hai bên có hai quai vấn toòng ten, lấy lược nhiễu quấn tóc mà khoanh vần theo đầu. (Có một làng có đàn bà bới tóc); dưới mặc váy, chân đi dép son, nước da mịn màng trắng trẻo, má hồng, da ửng, gót son, phốp pháp người, răng nhuộm đen cánh gián”.

Về hát ả đào, hậu sinh thường chỉ biết về lối giải trí này qua thời kỳ thoái trào của nó, nên tưởng các cô đào chỉ có hát mà thôi. Sự thực không phải vậy. Trương Vĩnh Ký đã tham dự nhiều buổi hát ả đào trong chuyến đi này nên ông nhớ cả tên các cô đào trong buổi hát và đúc kết lại trong mục sau:

Nhà trò: “Khi đám tiệc, hội hữu, tôn tế, kỳ yên, chạp miễu, thường hay dựng nhà trò. Nhà trò là con gái đương xuân sắc chuyên tập nghề ca xướng, tục kêu là cô đào. Có đám tiệc thì người ta rước tới hát, thường hát theo ca trù, dặm Thúy Kiều, câu hát, thơ phú hoặc kể truyện.

Hát cũng khi ngồi khi đứng, tay nhịp canh, miệng hát nhiều cung bậc, giọng thấp giọng cao ngân nga hay và êm tai lắm; có chú kép ngồi bên khảy cái đờn đáy, lại có người đánh trống nhỏ cầm chầu. Có khi lại đứng bắt bộ múa và hát. Có khách thì chủ đám lại bắt quỳnh tương rượu. Tay bâng chén rượu, miệng hát câu chi, hoặc tình ái, hoặc nhân ngãi, để mời cho khách uống đi”.

Miền Bắc thế kỷ 19 trong mắt học giả Trương Vĩnh Ký ảnh 1
Một phiên chợ ở miền Bắc

Cũng vấn đề phong tục, tác giả đã ghi chép khá kỹ, có những điều hậu sinh đã biết, nhưng cũng có nhiều điều nếu không nhờ tác giả thì cũng không hiểu rõ hoặc không ngờ là có. Ví dụ như khi ghi về các trò vui mùa hè, tháng tám âm lịch, tác giả viết: “Dịp ấy thường coi nhà trò, đánh gậy (nghề võ), vật, múa rối cạn (hát hình), múa rối nước, leo dây, bài điểm, cờ người, nấu cơm thi, dệt cửi thi, bắt chạch, tạc tượng, dục (giục) tượng, thảy đều có ăn cuộc ăn đãi cả”.

Dệt cửi không phải là thi dệt nhanh hay khéo, mà là:  “Còn dệt cửi thì làm sàn ra ngoài ao vừa để cái khung cửi, ả chức ra đó ngồi lên dệt, đâm thoi bắt thoi cho liền cho lẹ, nếu trật thoi văng rớt xuống ao thì thua”.

Còn tạc tượng thì ly kỳ hơn nhiều, đáng tiếc tác giả không ghi ở làng nào vùng nào: “Tạc tượng là bắt một cô đào nhan sắc có duyên đẹp đẽ mặc áo lượt thua rêu, quần lãnh bưởi có ngời ngồi ra tạo giữa dàn làm trên bờ hồ. Trai lãnh chàng đục, đóng khố giấy ra đó làm bộ đẽo chạm, hễ giữ không được thì tâm hoa động, dương vật dậy rách khố mất ăn, khi ấy đâm đầu xuống ao lặn đi đỡ xấu”.

Sức ép truyền thống phong tục

Vì sao có chuyến đi trên? Theo báo cáo của Trương Vĩnh Ký đề ngày 28/2/1876, gửi cho đề đốc Dupré qua ông Reynault de Premesnil, tham mưu trưởng, Trương Vĩnh Ký nhắc tới mục đích yêu cầu của chuyến đi và tường trình tình hình.

Trước khi làm việc này, ông xin phép lược tóm chuyến đi đã qua những nơi nào, gặp những ai, được đón tiếp như thế nào, và không quên lưu ý tầm quan trọng của mỗi địa phương. Chẳng hạn Thanh Hoá là cái nôi của triều đình hiện nay và của triều đình trước đó, hoặc dãy núi Ninh Bình có thể có mỏ kẽm.

Sau đó ông cũng xin phép được bày tỏ thái độ trí thức của mình: Nói thẳng, nói thực trong việc trình bày các sự kiện và cảm tưởng của mình vì tôn trọng phẩm cách của người cầm quyền yêu cầu mình, tôn trọng phẩm cách của chính ông là người thực hiện yêu cầu trên.

Sau đó ông thú nhận tình hình mà ông sắp trình bày thật đáng buồn lòng khi ông thấy cảnh lầm than của dân chúng. Ông nói ông đã nghiên cứu cẩn thận xã hội miền Bắc ở nhiều cấp bậc và ông cảm thấy một nỗi niềm thương xót vô cùng.

Miền Bắc thế kỷ 19 trong mắt học giả Trương Vĩnh Ký ảnh 2
Cảnh sinh hoạt của một gia đình

Ông đã trao đổi nhiều với những viên chức chính và nhận thấy hầu hết đều chán chường với vị trí, chức vụ mà họ phải tuân giữ một cách nô lệ, những phong tục, nề nếp cổ hủ đi ngược lại đà tiến bộ của tư tưởng và yêu cầu cởi mở của các quan lại trong các quan hệ với người nước ngoài. Tóm lại, các viên chức đều có xu hướng thiên về cải tổ, tiến bộ. Trương Vĩnh Ký nhận xét:

“Không thiếu những quan lại thông minh, có tài cai trị đã hiểu rằng lối thoát nằm ở một cuộc thay đổi toàn diện chính sách của triều đình. Họ đã chiến đấu bằng tất cả niềm tin và khả năng để xoay đổi hướng chính trị của triều đình, nhưng tới nay họ vẫn là phe yếu… Phạm Phú Thứ mà tôi được biết, đã dâng biểu về triều, đề nghị các biện pháp và các cải tổ thích ứng với nhu cầu hơn là các sai lầm cố cựu của nền hành chánh cũ.

Ngay cả các vị thượng thơ cũng nhấn mạnh theo chiều hướng này. Nhưng nhà vua, bị khống chế bởi triều đình và sợ đi xa các nguyên tắc tổ chức cổ truyền của vương quốc, đã ngần ngừ rồi sau cùng bỏ qua không xét. Các thượng thư muốn từ chức nhưng nhà vua đã yêu cầu ở lại tại chức”.

Về phương diện hành chánh, tệ tham nhũng hối lộ khá trầm trọng, lý do chính là vì các quan lại không đủ sống bằng đồng lương, buộc phải nhận quà cáp, đặc biệt là trong những việc cấp giấy phép cho buôn bán, thuyên chuyển, đi lại… Và Trương Vĩnh Ký ghi nhận là chính những thương gia nuôi dưỡng quan lại.

Còn tình hình dân chúng gồm những người thợ, làm ruộng thì sao? Họ nghèo cực khốn cùng vì không có gì ăn, cũng như không có việc gì làm. Sự lầm than này ở khắp mọi nơi và ở đâu cũng vang lên những đòi hỏi cải tổ để có một nền hành chánh có khả năng bảo đảm trật tự, tài sản, làm cho thương mại kỹ nghệ phát đạt và do đó lôi kéo dân chúng ra khỏi vực sâu đói nghèo mà họ đang cảm thấy đưa họ đến chỗ chết.

Xét về phong tục, tính tình, thì có lẽ dân chúng đáng chịu những khổ hạnh. Người dân hiền lành, chăm chỉ nhưng lúc nào cũng lo sợ, sống trong tình trạng bất an vì sự ức hiếp hay vì chiến tranh, nên không tin tưởng và trung thành với triều đình và vì thế dễ tin theo những người nổi lên kêu gọi họ.

Những người này thực ra chỉ là những bọn phiêu lưu, nên cuối cùng thất bại, họ lại tin ở những người khác mặc dù đã bị lừa bịp. Học giả Trương Vĩnh Ký kết luận: Nói chung hầu hết các viên chức đều ưng theo những tư tưởng mới, mong muốn cải tổ, nhưng tập tục truyền thống còn chi phối nặng nề.

Văn Trung
Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Cởi áo tu hành, khoác áo blue xông pha lên tuyến đầu chống dịch

Cởi áo tu hành, khoác áo blue xông pha lên tuyến đầu chống dịch
Khi đất nước có giặc ngoại xâm, tăng ni cởi cà sa mặc áo bào cùng đánh đuổi quân xâm lăng. Khi có thiên tai, tăng ni, phật tử khắp mọi miền tới những nơi bị ảnh hưởng để hỗ trợ người dân. Thời dịch bệnh, tăng ni cởi cà sa, khoác áo blouse, cùng xông pha vào nơi tuyến đầu chống dịch.

Gửi tình thương đến nơi xa

Gửi tình thương đến nơi xa
(PLVN) -  Mùa này, người yêu nhau cũng phải xa nhau, người thân cũng không được gặp mặt. Chỉ còn cách gửi tình thương và sự động viên từ xa xôi.

Nhận miếng cơm, manh áo trong tiếng thở dài, xót xa

 Vì sơn móng tay, một người phụ nữ bị từ chối phát cơm từ thiện.
(PLVN) - Trong cuộc sống, có rất nhiều người dân nghèo khổ khi đối mặt với tai nạn, thiên tai, dịch bệnh. Với tinh thần tương thân, tương ái, rất nhiều địa phương, cơ quan, người dân đã chung tay góp sức ủng hộ tiền và những đồ thiết yếu cuộc sống. Bên cạnh điều tốt đẹp ấy, đâu đó vẫn có tình trạng một số người vô tình hay hữu ý gửi tặng quần áo cũ rách, thực phẩm đã hết hạn sử dụng, vừa tặng quà, vừa nhục mạ, chỉ trích… làm tổn thương những người dân nghèo.

'Nhìn mặt bắt hình dong' hay mở rộng tấm lòng?

Xin đừng đưa ra sự kỳ thị khi hành thiện kẻo làm tổn thương người khó khăn.
(PLVN) -Tranh cãi chung quanh câu chuyện từ thiện đã diễn ra ở thời điểm thường ngày và đến mùa dịch vẫn còn tiếp tục. Người ta băn khoăn, nên “từ thiện có chọn lọc” hay “cứ cho sẽ có người cần”.

Để "chỉ đỏ" thêm đỏ

Để "chỉ đỏ" thêm đỏ
(PLVN) - Tinh thần “tương thân, tương ái”, đùm bọc lẫn nhau là truyền thống quý báu, nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam. Ðó là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt từ những ngày bình minh của lịch sử dân tộc đến nay. Nhưng từ xa xưa, ông cha đã đúc kết “Của cho không bằng cách cho” và hôm nay “Làm từ thiện đúng luật – khó hay dễ?” là câu hỏi luôn được đặt ra, để làm sao cho những tấm lòng thực sự đến được những nơi cần đến và người được giúp đỡ cũng không tủi hổ khi nhận sẻ chia…

Thiện nguyện chân chính trong giáo lý nhà Phật

Ảnh minh họa.
(PLVN) - Trong giáo lý nhà Phật, việc hành thiện nên xuất phát từ tâm thiện. Tâm chưa thiện thì hành vi sẽ bất thiện. Bởi thế, thiện nguyện trong giáo lý nhà Phật là sự hòa quyện giữa trí tuệ và lòng từ bi. Từ bi để phát nguyện giúp chúng sanh thoát khổ và trí tuệ để hành thiện đem lại điều tốt đẹp, không gây ra hệ quả không mong muốn.

Hà Nội yêu cầu ngừng thi công xây nhà, công trình dân dụng

Hà Nội dừng mọi hoạt động xây dựng tại tất cả các công trình dân dụng trong 15 ngày, kể từ 6h ngày 24/7. Ảnh minh họa: NĐT
(PLVN) - Ngày 24/7, Sở Xây dựng Hà Nội ra văn bản hỏa tốc yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố dừng mọi hoạt động xây dựng tại tất cả các công trình dân dụng trong 15 ngày, kể từ 6h ngày 24/7.

Hà Nội chính thức dừng hoạt động 'xe ôm công nghệ', shipper giao hàng

Hà Nội dừng hoạt động vận tải vận chuyển hành khách, hàng hoá bằng xe môtô bao gồm cả "xe ôm" công nghệ, shipper giao hàng. Ảnh minh họa
(PLVN) - Ngày 24/7, Sở Giao thông Vận tải TP Hà Nội đã có văn bản số 3461/SGTVT-QLVT quyết định dừng các hoạt động vận tải vận chuyển hành khách, hàng hoá bằng xe môtô bao gồm xe có sử dụng phần mềm ứng dụng công nghệ kết nối với hành khách và “xe ôm,” kinh doanh giao hàng công nghệ (shipper).