Mẹ và chị

       

Truyện ngắn của  Phùng Văn Ong

Tôi ngồi trong gian nhà rộng chừng tám mét vuông, vừa được quét dọn sạch sẽ nhưng vẫn chưa loại bỏ được cái mùi hôi hám ẩm mốc. Cái mùi rất riêng biệt này là phấn da và mồ hôi của mẹ tôi, người đã sống những năm cuối đời trong gian nhà này.

Tôi có bốn anh chị em. Anh cả tôi là bộ đội chủ lực, hy sinh ngay những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, kế đến anh Khiết, chị Mận và tôi. Anh Khiết và tôi là con trai nên được cắp sách đến trường, còn chị Mận, học hết lớp bốn, phải ở nhà cùng mẹ lao động đồng áng. Rồi khi chúng tôi học cấp hai, cấp ba trên trường huyện thì người tháng tháng gánh gạo, chuẩn bị thức ăn khô như : vừng, lạc, đỗ rang muối cho chúng tôi là mẹ, sau này là chị Mận. ở quê tôi, những gia đình có con học xa thường việc tiếp tế lương thực là của phụ nữ. Có điều cái công việc cao đẹp này lại đánh đồng như cắt lúa, phơi rơm, vớt bèo, nuôi lợn.

Những năm mẹ tôi còn khỏe, mắt còn sáng, giường mẹ kê ở gian trái ngôi nhà chính. Năm 1997, anh hai tôi nghỉ hưu từ Hà Nội về, thời gian này mắt mẹ tôi đã lòa hẳn, nên giường mẹ được chuyển vào căn nhà mới xây này. Việc chuyển giường nằm của mẹ cũng hợp lý thôi, vì anh tôi thường xuyên có bạn bè đến thăm, đôi khi mấy người còn đánh cờ suốt buổi. Một người già mắt không còn nhìn thấy ai lại phải đáp lại lời chào của khách chẳng biết già, trẻ, tuổi tác thế nào cũng bất tiện. Năm tháng qua nhanh, gian nhà mẹ tôi dần dà như một góc khuất, nên một tuần có khi cả tháng người nhà mới thay chiếu, giặt giũ quần áo cho mẹ một lần. Cái sự sao lãng này cũng là thường tình trong nhiều gia đình, khi mà con cháu ai cũng có thể kể ra hàng chục, hàng trăm việc quan trọng không thể đừng. Rồi việc làm vệ sinh, tắm táp, giặt quần áo cho mẹ được chuyển cho chị gái lấy chồng làng bên, tuần lễ sang với mẹ một lần. Chị tôi nghèo, nhà xa chừng hai cây số, nên mỗi lần sang, chị chỉ chăm chắm quét nhà, giặt giũ quần áo, gội đầu, chải tóc, nắn bóp chân tay. Có chuyện gì mẹ con nói với nhau thường chỉ thầm thầm thì thì đủ để hai người nghe.

Một lần chị nói với anh Khiết là trên Truyền hình thấy khuyến cáo tác dụng của xe lăn ba bánh đối với người già, người tàn tật. Các cụ già được ra khỏi nhà, hít thở không khí trong lành có thể thọ hơn là nằm bẹp một chỗ. Nhưng anh Khiết đã gạt đi :

-           Cô về bên làng, tuần lễ mới sang một lần, hỏi ai đẩy xe cho mẹ? Các cháu cô thì tối mặt với sách vở, học hành lộ cộ không vào được đại học là hỏng ngay. Còn tôi thì bệnh tật đầy người.

Từ lần ấy chị thôi không nói với anh trai chuyện gì về mẹ nữa.

Là con trai, chúng tôi được học hành, đỗ đạt, trở thành viên chức nhà nước, đời sống dư dả. Còn chị tôi là nông dân, quanh năm đánh vật với hòn đất, rồi lấy chồng. Khi người con gái đã bước vào tuổi ba mươi, ở nông thôn, hôn nhân chẳng còn sự lựa chọn, kiểu như đã sinh làm người phải có vợ, có chồng, sinh đẻ con cái mà thôi.

Hôm mẹ tôi mất, họ hàng, xóm giềng đến chia buồn, ai cũng nói mẹ tôi chết nhẹ nhàng như một người ngủ quên không thức dậy. ốm chết mà không tốn một viên thuốc ! Nhưng tôi lại không nghĩ thế. Tết vừa qua, con cháu, họ hàng xa gần đến mừng thọ mẹ, hân hoan vì chỉ qua hai cái Tết nữa là mẹ tôi tròn trăm tuổi, sẽ được Chủ tịch nước tặng áo lụa. Được như vậy, mẹ tôi sẽ là người đàn bà thứ hai trong làng sống qua tuổi bách niên. Trong ngày vui ấy mẹ lại nói gở là mùa đông này bà sẽ về với tiên tổ. Tôi thấy lạnh người, sợ hãi khi nghe những lời chiêm nghiệm của mẹ. Số mệnh không thể cưỡng, cuối năm mẹ ngã bệnh rồi ra đi, không chờ đón cái tuổi một trăm mà mẹ cho là quá ham hưởng phúc lộc. Sự ra đi này cũng giống như cây khô cạn dần nhựa sống, bị năm tháng bóc dần những lớp vỏ, một ngày nào đó mủn ra, đổ xuống, trở về với đất.

Khi mẹ mất, anh tôi có ý định bỏ cái giường bà vẫn nằm nhưng tôi đề nghị để nguyên chỗ cũ. Hôm ấy tôi nói :

- Để giường của mẹ cho em, mỗi lần về thăm nhà, em sẽ ngủ tại gian nhà mẹ, như thế em sẽ có một phòng riêng tiện hơn.

Tôi đang ngồi trên giường mẹ, lòng buồn chông chênh. Sáng nay tôi đã mở chiếc hòm đựng quần áo của mẹ. Cái hòm này mẹ đóng cho tôi khi tôi đỗ vào đại học để đựng quần áo, đồ dùng tùy thân và làm bàn viết. Năm 1973, tôi tạm nghỉ học cùng đông đảo sinh viên các trường đại học Hà Nội vào Nam tham gia kháng chiến, tôi đã mang hòm về quê cho mẹ. Mẹ tôi quý cái hòm này lắm. Bà thường chỉ vào những nét nguệch ngoạc trên mặt hòm mỗi khi có người tới thăm : “Chữ thằng Văn đây, học giỏi nhất nhì tỉnh nhưng chữ viết lại như gà bới !”

Tôi nhấc lên rồi lại đặt xuống mấy bộ quần áo chưa rách nhưng hầu hết đều rung rúc, thấm đẫm mồ hôi của mẹ. Trong hòm còn cái túi miệng có quai rút đựng tiền nhưng rỗng không. Tôi chưa từng mở cái túi này lần nào nhưng lại nghĩ lẽ ra nó phải có tiền, vì lần nào về quê, ra đi, tôi đều đặt vào bàn tay mẹ năm mươi nghìn hoặc hơn, nói là để mẹ ăn quà. Tôi còn biết là nhiều năm quanh quẩn trong gian nhà, chưa lần nào mẹ nghĩ đến đồng quà tấm bánh cho mình. Tháng trước về thăm mẹ, ra đi, tôi đặt tiền vào tay mẹ như mọi lần. Tôi nhớ lúc ấy, bà cầm tờ bạc, tay sờ sờ, rồi đưa lên ngang mắt như thể nhìn được. Bất chợt, bà hỏi : “- Tờ này là bao nhiêu tiền đây con ?” – “Năm mươi nghìn mẹ ạ !” -  “Sao con cho mẹ ít thế ?” Tôi thực sự ngỡ ngàng về câu hỏi của mẹ. Một phản xạ thần kinh chợt lóe lên trong đầu tôi. Phải chăng mẹ cũng rất cần tiền. Rồi bình tâm trở lại, tôi khẽ nói vào tai mẹ :

- Mẹ giữ tiền làm gì, chừng nào mẹ thấy cần cứ bảo anh Khiết, tháng nào con cũng gửi chỗ anh chị Khiết tiền cho mẹ đấy.

- Thôi cũng được.

Nói vậy, nhưng tôi lại cảm thấy trong người mẹ đang có điều gì không yên ổn. Đôi mắt bà dãn to, trắng đục dần. Bà nói tiếp :

- Nghĩ mà thương con Mận, dạo này gầy yếu quá !

- Chị Mận kể với mẹ ?

- Không. Có cạy miệng nó cũng chẳng nói.

- Vậy sao mẹ biết ?

- Nghe bước chân nó là thấy ngay, ngày một nhẹ tênh.

Ngay lúc này tôi như thấy chị trước mặt, đôi bàn chân lướt thướt nhẹ tênh trên mặt đất.

Tôi mang chuyện này nói với anh Khiết. Anh ngồi lặng vài giây, rồi cười hồn nhiên :

- Anh chẳng nghe mẹ nói đến tiền bao giờ, chắc là bà định cho ai.

Qua việc ngẫu nhiên mở túi dựng tiền của mẹ và câu trả lời không phải nghĩ của anh trai, tôi nhớ lại cách đây hai năm, nhân chuyến thăm Trung Quốc, tôi mua tặng  mẹ  chiếc chăn len hai lớp khá đẹp và giá cũng cao. Nhưng chỉ một tháng sau, tôi không thấy nó trên giường. Tôi hỏi và mẹ tôi nói là cái chăn ấy nặng và nóng lắm, mẹ đã cho chị con rồi, nhà nó nghèo lại đông con. Tôi tỏ vẻ không vui hỏi mẹ có biết cái chăn ấy giá bao nhiêu tiền không ? Mẹ không biết. Và nói : “- Con đã mua cho mẹ thì cần gì mẹ phải biết giá cả.”

 

Mười lăm năm, từ khi đôi mắt mẹ còn lờ mờ ánh sáng đến khi mù hẳn, cuộc sống cõi âm huyền bí đã đánh thức trí tuệ bà. Bà không thể nhìn thấy ngôi nhà tồn tại trên trăm năm của dòng họ, không nhìn thấy những đứa con trai áo quần xênh xang về quê những ngày giỗ tết. Nhưng bà lại dễ dàng nhận ra bước đi, tiếng nói, gương mặt người con gái đã sống trọn tuổi thanh xuân cùng bà, lao động suốt những năm đất nước có chiến tranh. Người con gái ấy là cái bóng của bà, và bà luôn đau đáu về cảnh nghèo khó của chị.

Tuy là trai nhưng anh Khiết và tôi đều ở xa, vài tháng về thăm gia đình một lần, mang theo vài gói bánh kẹo, vài lạng chè khô, mấy bao thuốc để tiếp khách và chia cho họ hàng. Rồi khi trở lại nơi làm việc, biếu mẹ một ít tiền. Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, đời sống làng xã có bao nhiêu việc phải chung vai đóng góp như : cưới xin, tang ma, giỗ chạp; có những khoản chi năm mười nghìn nhưng cũng có khoản chi hàng trăm như tôn tạo đình chùa, rải đường liên xã.

Tôi ngồi với chị Mận trong gian nhà của mẹ, hy vọng được nghe đôi điều tâm sự của chị. Nhưng chị lại ngồi yên lặng như thể mẹ chết rồi chẳng còn gì để nói nữa ! Tay chị luôn lau nước mắt. Cuối cùng, tôi nói :

 - Mẹ có mấy bộ quần áo và hai cái áo len, chị xem cái nào còn dùng được thì dùng hoặc cho các cháu, cái nào không dùng chị giặt phơi khô cho vào hòm để nguyên chỗ cũ cho em. Trong hòm mẹ còn cái túi trong đó có tiền, chị xem lại cẩn thận đi, tiền của mẹ bây giờ là tiền của chị.

Chị nhìn tôi, rồi nhìn chiếc hòm, lạ lẫm.

Tiễn chân chị, tôi nói :

-Mẹ mất rồi có khó khăn gì chị cứ viết thư cho em. Chị đừng ngại.

Tôi nghĩ  chị rất ngạc nhiên khi nghe tôi nói trong túi có tiền, bởi chị biết rõ trong nhiều năm nay, túi của mẹ chỉ là chỗ tạm trú của những tờ giấy bạc con cháu đi xa về biếu bà.

Trước hôm trở lại thành phố, tôi bỏ vào túi mẹ chiếc nhẫn một đồng cân vàng mà trước đây mẹ và chị đã bán đi gần ba tạ thóc mua cho tôi ngày cưới vợ.