Mang cái xấu xí của chợ trời sang xứ người

Tôi sang Nga vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, chứng kiến sự hình thành của biết bao cái chợ người Việt nơi xứ người. Và rời nước Nga vào thời kỳ các chợ nổi tiếng một thời ấy đã đi vào dĩ vãng.

Tôi sang Nga vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, chứng kiến sự hình thành của biết bao cái chợ người Việt nơi xứ người. Và rời nước Nga vào thời kỳ các chợ nổi tiếng một thời ấy đã đi vào dĩ vãng.

Chợ trời… giữa những hành lang hẹp

Ban đầu, đó là những khu ký túc xá hay những nhà máy cũ bỏ hoang được dùng lại, phục vụ cho cuộc mưu sinh của những người Việt ở lại sau khi hợp đồng lao động xuất khẩu bị tan vỡ cùng sự tan vỡ của Liên Xô cũ, và cả những người Việt hăm hở ních quần bò áo gió hàng chục lớp vào người, đi sang Nga “du lịch”. Ở Nga hàng chục năm mà đôi chân họ chưa một lần thong thả bước bên bờ sông Matxcơva giữa những hàng cây vàng mùa Thu như đã từng đọc được trong nhiều trang sách.

Mô tả ảnh.

Cuộc sống cuốn họ đi trong những cái chợ giữa những hành lang hẹp treo đầy hàng hóa, từ Ốp Búa Liềm, ốp Leninsky Prospekt, ốp Kazhukhov, đôm 5 cũ, đôm 5 mới, đôm 11… Sau này những ốp ấy đôm ấy “sập” thì lại có những Salut 1, 2, 3, 4, 5 rồi ốp Sokol, Lion, Togi, Sông Hồng 1, 2, 3… thay thế. Chợ lớn hơn thì có chợ Emeral ở tận ngoài đường vành đai, chợ Vòm gồm nhiều chợ nhỏ mà người Việt đứng ra điều hành cũng vài ba cái, như chợ KT, chợ Sơn Kiệt… Ngoài ra có những người chăm chỉ đi chợ ở các bến Metro như chợ Konkovo, chợ Prazhskaya, chợ Student…

Còn nữa, ở các tỉnh, tỉnh nào chả có vài ba cái chợ có thể nhìn thấy bóng dáng của những người Việt chăm chỉ và bận rộn. Trong chợ Việt là cả một Việt Nam thu nhỏ: từ quán ăn có phở, có nem đến những quán bán báo thời còn hưng thịnh, chất ngất những An ninh thế giới, Tiền phong chủ nhật, Công an nhân dân… đúng ngày đúng tháng, đắt mấy cũng có người mua. Khu hàng khô hàng tươi thì chẳng khác nào một khu chợ ở Việt Nam, mùi cũng hôi nồng những thịt tươi, tràng, dạ dày lợn, sách bò, măng ngâm chua, rau đậu lưu cữu, mùi nước mắm, mắm ruốc, mắm tôm...

Mưu sinh cùng những hành lang hẹp, và sống cũng bên những hành lang hẹp thừa tiếng ồn và thiếu không khí ấy. Phần đông bà con sống chen chúc trong những căn phòng có lớp giấy bồi tường cũ kỹ, có dễ đến mấy chục năm chưa thay, thấp thoáng bóng của những con gián nhỏ dạn người.

Một phòng có thể vài ba đôi vợ chồng chung sống, ngăn không gian tình cảm và không gian buôn bán bằng những tấm ri-đô hoặc căn gác xép xinh xắn, chẳng khác gì cảnh sống nơi phố cổ Hà Nội một thời. Cuối mỗi hành lang có nhà tắm, nhà bếp chung, cứ đến giờ cao điểm là ồn ào băm chặt, chuyện trên trời dưới biển, đến là vui!

Cuộc sống diễn ra trong các chợ, nó cũng như cuộc sống ở Hà Nội đây thôi. Là có làm, có ăn. Là có tình, có hận. Những mối thâm tình láng giềng giữ gìn bền chặt hơn chục năm, cho đến khi về nước. Cũng có những mối xích mích thâm thù, đánh nhau, đưa nhau ra tòa, thậm chí giết nhau, để lại những vết đen trong suy nghĩ của người bản xứ về người Việt.

Công bằng mà nói, chợ nơi xứ người đã một thời nuôi sống nhiều người Việt, cho họ tiền gửi về quê hương xây nhà, nuôi con, nuôi cha mẹ già, làm phận sự với tổ tiên… Tiếc thay, đối với người Việt, những cái chợ ấy không tồn tại được lâu, mà cứ sập dần hay thu hẹp dần, để đến một lần ngơ ngác nhìn nhau nơi xứ khách, không biết sẽ tiếp tục đường sinh nghiệp bằng cách nào. Tự hỏi, sự tồn tại của các chợ người Việt lẽ nào chỉ là một chốc một thoáng, tạm bợ, “chộp giật”, không có được sự dài lâu? Vì sao?

Bán hàng kém chất lượng, ăn xổi ở thì…

Chợ người Việt, nhưng hàng hóa được bày bán nơi đây không có mấy bóng dáng hàng Việt. Đúng ra, hình như đã từng có, vào cái thời xa lắc ban đầu ấy. Nhưng toàn là hàng rẻ tiền và chất lượng thì không có từ nào để tả được.

Mô tả ảnh.

Thời ấy, các cửa hàng của Nga khan hiếm hàng hóa, dân Nga nghèo đi đến chợ Việt, có hàng mua đã quý lắm rồi, kể gì đến cái sự bục chỉ quá mau của những áo phông, váy áo có những cái tên mĩ miều: Nữ hoàng, cành mai…, cũng chả kể trong đống quần áo đôi khi người ta nhét thêm vài cái “bờ-rắc”* (hàng lỗi) vào, đem lại đổi thì người bán giả điếc vì… không biết tiếng, lắc đầu quầy quậy.

Rồi cũng vài lần người mua mới thấy hình in trên áo trên mũ nhạt đi nhanh quá, quần bò thì giặt nước đen sì chậu, phéc-mơ-tuya kéo đến lần thứ hai thì méo, áo gió không che được gió, cặp tóc hoa xanh hoa đỏ rụng tơi bời. Sau này, khi người Nga thi hành luật bảo vệ người tiêu dùng, hàng được giả lại trong vòng 2 tuần, thì những người Việt không dám “lắc đầu quầy quậy” nữa mà phải vội vàng đáp ứng yêu cầu của “thượng đế”. Mà nhiều khi gặp “thượng đế” oái oăm khó tính, thì cãi lộn ầm ĩ cuối cùng cái lý cũng chẳng thuộc về mình, vì tiếng của mình không đủ để cãi với người ta!

Những năm sau, chợ Việt chỉ dùng hàng Ba Lan, hàng Tàu, hàng Thổ. Mùa nào thức ấy, người bán sang tận Ba Lan, Trung Quốc, Thổ để gom hàng. Đứng nhìn hàng Tàu, hàng Thổ chất ngất trên các sạp hàng người Việt, cứ tự hỏi, hàng Việt ở đâu? Vì sao? Nếu không phải vì cái cách bán hàng rởm, ăn xổi ở thì, rồi tự mình loại mình ra khỏi cuộc chơi?

Buôn bán chẳng cần phép tắc

Mô tả ảnh.
Mô tả ảnh.

Một anh bạn người Nga của tôi luôn tỏ vẻ ngạc nhiên mỗi khi đến thăm một nơi người Việt lập chợ. Tại sao những người Việt này có thể sống ở nước Nga như thế, mà hoàn toàn chẳng cần biết tiếng Nga? Tôi đáp, đơn giản vì chúng tôi đã có một cộng đồng trong lòng nước Nga. Nhiều người thấy không cần thiết phải biết tiếng Nga và hiểu người Nga. Họ không cần hòa nhập vào cuộc sống của nước bản địa. Những người sống và bán hàng ở chợ Việt chỉ cần biết những ông chủ Việt, Ban quản trị, và dường như phó thác sinh mệnh của mình cho họ.

Ngay cả việc làm ăn của mình cũng vậy. Họ bỏ ra khoản tiền lớn để mua chỗ, mua phòng, mua “công” (contenner), gọi là “mua” chứ kỳ thực chỉ là “vào chỗ” thôi, rồi hàng tháng lại trích doanh thu ra mà trả tiền thuê. Họ không theo dõi được việc nộp thuế thế nào, có trách nhiệm gì với chính quyền địa phương, cứ nhắm mắt yên tâm là ban quản trị lo. Thế rồi lúc cơ quan thuế sờ đến, ốp, chợ lại đóng cửa vài ngày.

Đấy là chưa kể đến những buổi “đi càn” của công an, OMON, kiểm tra giấy tờ xuất xứ hàng, giấy tờ hộ khẩu của người… người có “khẩu” lẫn không “khẩu” đều bị dồn đống vào phòng ban quản trị, rồi ồn ào những tra hỏi, cười gằn, thu tiền, thả ra, lùa về đồn… Những lúc ấy, thấy kiếp người lao động nơi xứ khách sao mà tủi nhục! Mà có phải tốn ít đâu, tiền tháng nào cũng nộp đủ nộp nhiều, những đồng tiền thấm mồ hôi trong tuyết và cay đắng của những thân phận tha hương ly tán!

Ốp sập. Chợ đóng. Người ta lại buôn bán cầm chừng ở các chợ nhỏ, đợi một đôm mới, ốp mới được dựng lên. Và lại co cụm vào cả với nhau, trong một cộng đồng nho nhỏ mà ồn ã nơi xứ lạ.

Nho nhỏ... ồn ào

Mô tả ảnh.

Thời các ốp vẫn còn thịnh, tôi từng hỏi mấy người bạn Nga của tôi, có biết ốp của người Trung Quốc trong Matxcơva ở đâu không? – Không rành lắm. Thế còn “ốp Cộng”? – Vanh vách nói ra đến gần chục cái tên, địa chỉ, cách đi, giờ làm việc… Sao biết? Ai chả biết! Họ bảo, người Việt xưa làm du kích thế nào thì không biết, chứ ở đây, chớ trách công an “đánh hơi” thấy người Việt dễ dàng để mà đến hỏi thăm, “làm luật”, vì họ khá ồn ào.

Những khu nhà gần ốp-chợ Việt thì khỏi nói, ồn ào từ cách xa vài cây số! Người Việt lại còn thức khuya, đèn sáng chong chong, đôi khi làm xốn mắt hàng xóm. Những khu ốp người Việt, nhà vốn đã cũ, người quá đông, ăn ở lại không được sạch sẽ, gián và chuột ra vào rộn ràng. Người Nga người ta nói vậy đấy! Cho nên, dù cũng khẳng định với nhau rằng, người Việt ở Nga hiền lành, chăm chỉ, thì người địa phương vẫn không khỏi nhìn người Việt trong các chợ ở Nga với ánh mắt khinh thị, coi thường.

Cũng chính sự ồn ào của chợ người Việt đã lôi kéo nhiều ánh mắt tò mò của dân Nga. Còn nhớ, trong tờ “Ngọn lửa nhỏ” số 52-2008, phóng viên Vladimir Nikulin đã thực hiện một bài phóng sự khá chi tiết về cuộc sống người Việt ở các ốp. Phóng viên này kể về cuộc sống ban ngày ồn ào chợ búa, cuộc sống ban đêm dưới tầng hầm của một “ốp cộng”, nơi có những thứ tương tự như night club, có bia, rượu, đèn màu, karaoke, và cả dịch vụ vui vẻ từ A đến Z với các cô gái Nga, gái da đen và gái Việt. Đương nhiên không phải ai cũng biết và cũng được bước chân vào chốn này. Nikulin kể, rằng để vào được night club ấy của người Việt, anh ta phải viện đến sự giới thiệu của một “soái lớn”.

Cá lớn nuốt cá bé

Tôi biết những người nghe lời những kẻ “đánh người” rủ rê bán ruộng sang Nga, không có nơi ở, co ro trên tấm giấy cac-tông nằm ngoài hành lang một ốp Cộng, vào những ngày đông giá nhất của Nga.

Tôi biết có cô gái sang Nga tưởng đi làm thợ may, không ngờ bị người ta ép đi bán thân, may một lần trốn ra ngoài điện về nhà mà thoát được, nhưng không dám ra mặt tố cáo. Tôi biết có những người năng nhặt chặt bị, một lần bị lừa mất hết tiền mà rất nhiều năm phải lang thang, không dám về phép.

Tôi biết có người có chút vốn còm, gọi là đi “buôn xanh”, chỉ trông vào sự lên xuống của đồng tiền, rồi bị chính những người đồng hương của mình “phím” cho kẻ xấu, để rồi bị mất hết cả vốn lẫn lãi, lại kỳ cạch làm lại từ đầu.

Tôi biết có anh hiền lành đang sống yên ổn với vợ con, thoắt cái phải ngồi tù, vì những chuyện anh không làm. Biết cả những chuyện, vì cò kè hơn thiệt nhau mà người Việt “thanh toán” lẫn nhau.

Tôi biết rất nhiều, cả những chuyện không ai muốn kể, vì tôi cũng đã từng là một trong những người Việt đã và đang chăm chỉ làm ăn nơi đất khách, trong những cái chợ xứ người. Đương nhiên không chỉ có những chuyện buồn. Nhưng buồn vui giữa chợ, đều khiến người ta chạnh lòng, vì những mong manh của phận người!

Lỗi tại ai? Đôi khi tôi lẩn thẩn nghĩ, lỗi là do văn hóa. Một góc văn hóa Việt có cả những nét đẹp lộng lẫy, có cả những nét xấu xí mà ai cũng biết nhưng chưa mấy ai muốn sửa.

Lỗi của thói đời, khi đói rách thì đùm bọc cưu mang, khi có của thì kèn cựa, ghen ăn tức ở, không biết mừng vui cho may mắn của người.

Lỗi của những cái nhìn thiển cận, chỉ thấy đồng tiền trước mắt, không xây dựng tương lai lâu dài bằng những bước đi bình tĩnh, chiến lược hơn. Có phải vì vậy chăng, mà những khu chợ người Việt từng sầm uất, hoành tráng trong lòng thủ đô nước Nga, đã nhanh chóng trở thành quá vãng?

Theo thông báo ngày 25/1/2010 của hãng RIA, thì chính quyền Matxcơva không có ý định xóa bỏ hoàn toàn chợ người Việt, người Trung Quốc ở đây. Điều họ cần là những khu chợ hay ốp “hợp pháp, đóng tiền thuê đất, tiền thuế đầy đủ, có điều kiện sống và vệ sinh bình thường, những khu chợ “giẻ rách” chắc chắn sẽ không tồn tại trong thành phố”. Và tôi nghĩ đến một khu chợ đúng nghĩa, là nơi kiếm sống an toàn, không tạm bợ cho những người Việt của tôi, một cộng đồng, như ông thị trưởng Matxcơva từng nói vào chuyến đi thăm Hà Nội cuối tháng 11/2008, trong sạch, chăm chỉ, có đóng góp tích cực vào cuộc sống nước bạn.

Theo Vietnamnet