Lý giải sự nghèo - Kỳ 1: Vẫn trông chờ “trời sinh cỏ”

“Những người có thu nhập thấp sẽ sống sao đây trong cơn lạm phát?” - Đó là câu hỏi thường xuyên được đặt ra trong các cuộc giao ban của lãnh đạo thành phố, khi tình hình lạm phát cả nước đã lên đến đỉnh điểm vào năm 2008. Thế là lóe lên ý tưởng về việc khảo sát những hộ có hoàn cảnh đặc biệt nghèo để có những chính sách hỗ trợ ban đầu.

“Những người có thu nhập thấp sẽ sống sao đây trong cơn lạm phát?” - Đó là câu hỏi thường xuyên được đặt ra trong các cuộc giao ban của lãnh đạo thành phố, khi tình hình lạm phát cả nước đã lên đến đỉnh điểm vào năm 2008. Thế là lóe lên ý tưởng về việc khảo sát những hộ có hoàn cảnh đặc biệt nghèo để có những chính sách hỗ trợ ban đầu. Gần 1 nghìn hộ được đưa vào danh sách đợt đầu tiên, với hỗ trợ ban đầu là 1 triệu đồng mỗi hộ. Không dừng lại ở đó, để xóa cái “đặc biệt nghèo” căn cơ hơn, chương trình “5 không” đã có sự thay đổi lớn, với mục tiêu “Không có hộ đói” được chính thức chuyển thành mục tiêu “Không có hộ đặc biệt nghèo”. Để làm được điều này một cách hiệu quả, cần phải tìm ra lý do dẫn đến tình trạng đặc biệt nghèo, từ đó đưa ra các giải pháp thật sự thích hợp...

Lý giải sự nghèo - Kỳ 1: Vẫn trông chờ “trời sinh cỏ”

Cần có chính sách trong việc ngăn chặn tình trạng đông con, dẫn đến đông người phụ thuộc - một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. TRONG ẢNH: Phụ nữ dân tộc xã Hòa Bắc tìm hiểu về công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình.

Hơi chiều một chút. Cái nắng xiên xiên đã chạy dọc theo con phố nhỏ ở tổ 15, phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, khi chúng tôi chớm bước vào trong hiên nhà ông Đặng Văn H.(*) Một người đàn ông khoảng chừng 50 tuổi nghe tiếng chào hỏi lừng khừng ngồi lên, rồi ôm chiếc gối đang nằm ném vội vào góc tường nhà.

Chừng như giấc ngủ trưa vẫn chưa thoát khỏi đôi mắt mệt mỏi, bơ phờ trên gương mặt xam xám pha chút sạm đen của ông. “Trưa, tụi nhỏ quậy quá nên không ngủ được, tranh thủ chút chứ tối ngủ cũng chập chờn!” - Giọng khê đặc của ông cất lên, như để lý giải cho giấc ngủ trưa muộn mằn. Ngoài hè phố, mấy đứa choai choai chơi cùng mấy đứa nhỏ, có mấy nhóc đang còn nằm trên võng dưới bóng cây sơ-ri để tránh cái nắng quái chiều hôm đang dội ngược vô nhà.

Cũng cái dáng điệu lừng khừng như lúc mới ngủ dậy, ông H. đi lấy nước mời khách. Như cảm nhận được câu hỏi trong cái nhìn của chúng tôi về dáng điệu lừng khừng ấy của một người đàn ông trung niên, ông chậm rãi: “Cái cột sống cứ hành hạ miết hơn chục năm rồi, chẳng làm chi được!” Câu giải thích ấy làm chộn rộn lên trong lòng cái ý nghĩ, có lẽ nó là ảnh hưởng của một bầu đàn thê tử 17 người đang tồn tại trong ngôi nhà ngang dài rộng hẹp đếm hết chỉ vỏn vẹn 53 mét vuông này!

Rồi trong câu chuyện rề rà về những ngày tạm gọi là “ăn nên làm ra” của ông, cũng hình dung ra được cái căn cớ của việc có đến 9 đứa con vừa trai vừa gái của vợ chồng ông. Những ngày còn làm ở Trạm cung ứng thạch cao của thành phố, giữa lúc khó khăn chung, vợ chồng cũng có đồng ra đồng vào nên cứ nghĩ, thôi đẻ ra cũng có cái ăn, lo cho chúng học được, không đến nỗi nào.

“Trời sinh voi ắt sinh cỏ” mà! Thế nhưng, “voi” thì lỡ sinh ra rồi, nhưng do công việc nặng nhọc, đơn vị lại giải thể, ông về hưu non nên “cỏ” cũng chẳng có nữa. May mà vợ chồng ông vừa kịp dừng sinh đứa con cuối cùng ở ngay lúc vừa nghỉ việc vào năm 1993; cũng là lúc sức ông đã cùng kiệt do gắn với bệnh cột sống kinh niên.

Gần 19 năm, 9 “con voi” ra đời đã làm cho vợ chồng ông lụn bại, không tính toán làm được việc gì cho ra hồn. Những đứa con lớn lên, tự nhiên, may mắn là cũng có được sức dài vai rộng, ngoại trừ  đứa con gái thứ bảy bị bệnh thiểu năng trí tuệ. Rồi ba đứa con trai cũng lập gia đình, đem về cho gia đình ông  6 nhân khẩu nữa! Ông than thở: “Ngó sức dài vai rộng hết, nhưng chẳng đứa mô có nghề nghiệp nên hồn. Con đông, lo cái ăn đã bạc mặt, đâu có nghĩ đến chuyện học hành, nghề ngỗng cho chúng nó đâu! Ai hỏi chúng làm nghề chi, tui kêu nghề thợ đụng - đụng mô làm nấy.
 
Mà đã không có nghề nghiệp đàng hoàng thì đừng có mơ kiếm vợ có nghề. Rứa là chúng dồn cả về đây, con cháu đẻ ra cũng để ở đây! Dồn một cục 17 người vô căn nhà như ri thì hỏi làm sao mà tui lo cho nổi!”. Không cần ông than, nhìn vô bản khảo sát của cơ quan chức năng ở quận Sơn Trà, ghi phần nghề nghiệp của 12 đứa vừa con vừa dâu ở gia đình ông đã thấy khiếp: 9/12 người “việc làm không ổn định”; trừ một đứa đi tù, một bị bệnh kinh niên và một vừa mới bỏ học!

Thế nhưng, kinh nghiệm nhãn tiền về chuyện trời sinh voi nhưng không chịu sinh cỏ, để mấy đứa con thất nghiệp, dồn đống vào trì níu nhau để đến nỗi những thanh niên sức dài vai rộng phải đưa vô diện “hộ đặc biệt nghèo” của quận đó dường như đã không tác động mấy đến nhiều hộ dân trong phường An Hải Tây này.
 
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phường này, mặc dù đã phấn đấu hết mình, “chỉ thiếu nước đè xuống mà triệt sản” - như lời một cán bộ dân số của phường ví von, nhưng vẫn còn ở mức hai con số trong suốt nhiều năm qua, chỉ đứng trên được phường Nại Hiên Đông cùng quận! Cũng chia sẻ nỗi niềm này, một cán bộ dân số ở phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu cho biết, có nhiều người được cán bộ các cấp, các ngành đến vận động, ra đến trạm y tế đặt vòng để nhận mấy đồng xong là về tháo ra, đẻ liền! Như trường hợp chị Nguyễn Thị P. (vợ anh M.T.B.) ở tổ 7, mới 33 tuổi đã kịp có 4 đứa con, đứa con út sinh năm 2003.

Cán bộ phường xuống lập danh sách đưa vào hộ đặc biệt nghèo, mới xuống hôm trước thì hôm sau nghe nói chị ta vừa sinh con, nên chưa kịp bổ sung thêm nhân khẩu mới này vào danh sách! “Thế mà chị ta cứ thề lên thề xuống là thôi không đẻ nữa, đã đưa lên trạm y tế làm kỹ thuật đình sản rồi đó!” - Cán bộ y tế này than thở. Thế nên, chị cũng không giấu giếm gì khi “khoe” thành tích đã giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phường từ 19,6% năm 2007 xuống còn 10,3% vào năm sau đó. “Năm nay phấn đấu tiếp theo tốc độ đó chứ không phường nghèo vẫn cứ tiếp tục nghèo!” - Chị lý giải một phần căn cơ của cái sự đặc biệt nghèo.

Bà Trần Thị Hồng Vân, Trưởng phòng Xóa đói giảm nghèo - Bảo trợ xã hội (thuộc Sở LĐ-TB-XH thành phố) cho biết, trong tổng số 938 hộ đặc biệt nghèo của toàn thành phố qua đợt khảo sát đầu tiên, có đến 39,5% hộ gia đình có đông người phụ thuộc, mà trong đó chủ yếu là trẻ em. Cũng theo con số thống kê mà bà Vân cung cấp, có đến 316 hộ có 5 nhân khẩu trở lên, chiếm 33,6% số hộ đặc biệt nghèo. Trong đó, 4 hộ có 10 nhân khẩu; 1 hộ có 11 nhân khẩu, 2 hộ có 14 nhân khẩu và “kỷ lục” 17 nhân khẩu trong một hộ thuộc về gia đình ông Đặng Văn H. ở phường An Hải Tây, quận Sơn Trà.

Phóng sự của Nguyễn Thành