Lượng hóa giá trị kinh tế di sản

Lượng hóa giá trị kinh tế di sản
Ảnh minh họa - TTXVN.

Với thực tế du lịch là một động lực phát triển quan trọng của Việt Nam, từ lâu nay có một câu hỏi thú vị được đặt ra, là các di sản có thể được “định giá” ra sao? Mới đây, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức cuộc họp lấy ý kiến về vấn đề này.

Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới (DSTG) được UNESCO công nhận, gồm các di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp, với đặc điểm đa dạng về loại hình, quy mô, không gian quản lý, phạm vi tác động. Hệ thống DSTG đã trở thành một nguồn lực quan trọng với phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, sinh kế cộng đồng, bảo vệ môi trường, quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế quốc gia.

Theo đề án nghiên cứu và lượng giá, biến di sản thành tài sản, di sản được nhìn nhận như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên, vốn xã hội, có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng, “sức mạnh mềm” trong dài hạn. Việc lượng hóa di sản nhằm đo lường những lợi ích kinh tế và phúc lợi mà hệ thống tài sản di sản tạo ra cho xã hội.

Tổng giá trị kinh tế của mỗi DSTG được lượng hóa gồm giá trị sử dụng (GTSD) và giá trị phi sử dụng. GTSD gồm GTSD trực tiếp từ tham quan, du lịch, dịch vụ văn hóa, sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, sự kiện, các hoạt động định cư, sinh kế cộng đồng; GTSD gián tiếp thông qua cảnh quan, môi trường, thương hiệu lãnh thổ, sức hấp dẫn đầu tư, giá trị bất động sản, chất lượng không gian sống, các dịch vụ hệ sinh thái; còn có các GTSD như giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau, giá trị biểu tượng, bản sắc và giá trị tinh thần của cộng đồng.

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có một khung phương pháp lượng giá tổng giá trị kinh tế (TEV) thống nhất ở cấp quốc gia đối với di sản. Một số nghiên cứu đã được triển khai tại từng di sản, địa phương, dự án, nhưng còn khác biệt về phạm vi giá trị, phương pháp, dữ liệu, kỹ thuật ước lượng, dẫn tới khó so sánh, cập nhật, tích hợp kết quả vào quy hoạch, đầu tư công, chiến lược du lịch, đánh giá tác động, cơ chế tài chính bảo tồn. Vì vậy, việc xây dựng một khung phương pháp thống nhất có ý nghĩa quan trọng với quá trình chuẩn hóa chỉ tiêu, dữ liệu, quy trình khảo sát, cơ chế sử dụng kết quả lượng giá trong quản lý nhà nước với di sản.

8 đề án thành phần dự kiến sẽ được triển khai tại Hoàng thành Thăng Long, vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà, Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thành Nhà Hồ, Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, phố cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn. Việc lựa chọn các trường hợp này nhằm kiểm nghiệm khả năng áp dụng khung TEV với những loại hình và cấu trúc di sản khác nhau, từ di sản văn hóa, thiên nhiên đến hệ thống di sản có tính phức hợp cao.

Với định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, việc có khung TEV với di sản là rất cần thiết, tạo thêm cơ sở định lượng để nhìn nhận bảo tồn di sản như một hình thức đầu tư văn hóa cho phát triển bền vững; để cơ quan quản lý có thêm dữ liệu phục vụ phân bổ ngân sách, lựa chọn dự án đầu tư, lập quy hoạch du lịch, thiết kế cơ chế tài chính bảo tồn, xác định mức phí và giá dịch vụ, xây dựng quỹ bảo tồn, tái đầu tư nguồn thu và thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích từ di sản với cộng đồng, thúc đẩy phát triển kinh tế di sản theo hướng bền vững.

Thành Trung