Luật Quốc tịch Việt Nam 2008: Đáp ứng yêu cầu hội nhập và chính sách đại đoàn kết dân tộc
Luật Quốc tịch Việt Nam được Quốc hội khoá 12, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13-11-2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2009. Luật gồm 6 chương, 44 điều, quy định về: có quốc tịch Việt
So với Luật Quốc tịch năm 1998, Luật Quốc tịch năm 2008 có một số nội dung mới, quan trọng Luật Quốc tịch năm 2008 tiếp tục khẳng định nguyên tắc một quốc tịch nhưng quy định rõ một số trường hợp ngoại lệ.
Luật không bắt buộc “một” quốc tịch trong khi Luật Quốc tịch năm 1998 không quy định các trường hợp ngoại lệ có thể có 2 Quốc tịch, mặc dù trên thực tế vẫn có nhiều trường hợp mang 2 quốc tịch. Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi nguyên tắc này mang tính mềm dẻo hơn, phù hợp với chính sách của Nhà nước ta về hội nhập quốc tế, đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối với người Việt
Về việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, đây là quy định mới hoàn toàn so với Luật Quốc tịch năm 1998, Luật Quốc tịch 2008 quy định rõ: trong 5 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực, những người Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn giữ quốc tịch Việt Nam phải đến đăng ký với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi người đó định cư. Nếu hết thời hạn 5 năm mà không làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam thì người đó đương nhiên bị mất quốc tịch Việt Nam theo căn cứ mất Quốc tịch Việt Nam quy định tại khoản 3, điều 26. Với quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, tạo điều kiện để Nhà nước làm tốt công tác quản lý quốc tịch, quản lý công dân Việt Nam ở nước ngoài và thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân.
Một nội dung quan trọng của Luật Quốc tịch năm 2008 là giải quyết vẫn đề nhập Quốc tịch Việt Nam đối với người không QT đã cư trú ổn định tại Việt Nam. Tình trạng người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch nước nào đang thường trú trên lãnh thổ nước ta khá nhiều. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định, đến nay họ đã thực sự hoà nhập vào cộng đồng người Việt
Phương