Luật hồi tỵ - Từ quá khứ nhìn về hiện tại

Dọc theo chiều dài hàng nghìn năm phát triển đất nước, cha ông đã để lại một kho tàng tri thức và kinh nghiệm vô cùng phong phú, quí báu trong công tác quản lý xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng, sắp xếp bố trí và quản lý đội ngũ quan lại phục vụ trong tổ chức bộ máy hành chính. Trong đó, việc xây dựng và thực thi chính sách hồi tỵ (law of avoidance) đã để lại nhiều suy ngẫm ...

Dọc theo chiều dài hàng nghìn năm phát triển đất nước, cha ông đã để lại một kho tàng tri thức và kinh nghiệm vô cùng phong phú, quí báu trong công tác quản lý xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng, sắp xếp bố trí và quản lý đội ngũ quan lại phục vụ trong tổ chức bộ máy hành chính. Trong đó, việc xây dựng và thực thi chính sách hồi tỵ (law of avoidance) đã để lại nhiều suy ngẫm ...

Hơn 500 năm Luật hồi tỵ

Triết lý hồi tỵ - tránh đi, khởi nguồn từ sự nghiệp cải cách nền hành chính quốc gia toàn diện và sâu sắc của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Với quan điểm “Trăm quan là nguồn gốc của trị, loạn. Quan có đức, có tài thì nước trị. Quan vô đức, kém tài là thềm, bậc dẫn đến hoạ loạn”, Lê Thánh Tông đặt ra chế độ hồi tỵ phục vụ cho công tác bổ dụng đội ngũ quan lại phong kiến đương thời: Không được bổ nhiệm một viên quan về cai trị huyện hoặc tỉnh mà ông ta xuất thân từ đó; không được bổ nhiệm một viên quan tới nơi ông ta có người họ hàng tại nhiệm ở vị trí lãnh đạo; trong thời gian trị nhậm tại một tỉnh hoặc một huyện, một viên quan không được cưới vợ, lấy thiếp là người của địa hạt đó; một viên quan không được phép tại vị quá lâu ở cùng một địa phương hoặc cùng một viện, bộ chức năng.  

Đến khi triều Nguyễn nắm ngôi quân chủ, cảm thấy nhức nhối trước thực trạng “các chức thông phán, phần nhiều là người địa phương. Do đó, vì tình riêng làng nước, khó lòng khỏi sự tư túi sinh ra nhiều tệ hại”, thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị đã ban hành luật Hồi tỵ vào năm 1831, liên tục bổ sung vào các năm tiếp theo: Quan lại không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà tại nơi cai quản; quan lại không được lấy người cùng quê làm người giúp việc; người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một công sở; các lại dịch nha môn, các bộ ở kinh đô và các tỉnh là con, anh em ruột, anh em con chú, con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác; các quan lại không được làm quan ở nơi trú quán (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình, thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi; các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ huyện là quê hương mình; các lại mục, thông lại các nha thuộc các phủ huyện là người cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nơi khác; các quan viên từ Tham biện trở lên ở các trấn, tỉnh về kinh đô chầu được dự đình nghị, song khi trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà mình nhậm trị thì không được vào dự; các khảo quan (coi thi, chấm thi) có người thân thích dự thi ở trường mình thì phải báo lên cấp trên để tránh đi, nếu cố tình không khai báo sẽ bị trọng tội vì cố ý làm trái; các quan thanh tra, xét xử thấy trong vụ án, vụ điều tra có người thân quen của mình (bà con nội, ngoại, bạn thân…) đều phải khai báo và hồi tỵ ngay; cấm quan đầu tỉnh lấy vợ trong trị hạt vì sợ gia đình vợ nhũng nhiễu; cấm các quan tậu ruộng vườn, nhà cửa trong trị hạt vì sợ quan hiếp dân để được mua rẻ; cấm tư giao với đàn bà con gái trong trị hạt; cấm các quan lại đã về hưu quay lại cửa công để cầu cạnh…

Thực tiễn lịch sử cho thấy, hồi tỵ là một chủ trương, chính sách đắc lực giúp các vị quân chủ phong kiến có thể quản lý, khống chế đội ngũ quan lại câu kết, ngăn ngừa sự lạm chức quyền, địa vị để kết bè kéo cánh. Chính sách này cũng còn là chế độ phòng ngừa, giám sát và quản lý nghiêm ngặt các quan lại nhằm ngăn chặn, hạn chế nạn tham nhũng, quan liêu, cát cứ, chạy theo lợi ích cục bộ, địa phương.

Nhìn lại thì thấy, chính sách hồi tỵ thể hiện rõ nét sự am tường, tinh hiểu của cha ông ta về văn hoá, lối sống xã hội cũng như những nguy cơ tiềm ẩn từ quan hệ thân tộc, đồng hương, thầy trò…trong đời sống của đội ngũ quan lại đương thời. Nó giúp các chế độ phòng tránh, hạn chế được mặt tiêu cực ngay từ khía cạnh văn hóa ứng xử của những người nắm giữ công quyền, từ đó phát huy tính công tâm, khách quan trong việc phụng sự lợi ích nhà nước của đội ngũ quan lại; thể hiện chính sách, phương châm chủ động phòng ngừa tiêu cực trong bộ máy quan liêu ngay từ khâu bổ dụng.

…Và một vài suy ngẫm cho hiện tại

Ngày nay, chúng ta có thể thấp thoáng nhận thấy một vài quy định hồi tỵ trong các quy định của công tác tuyển dụng công chức, sắp xếp, bố trí cán bộ, công tác bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, công tác định kỳ chuyển đổi vị trí công tác... Tuy nhiên, những quy định này còn tản mát, thiếu sự tập trung, chưa mang tính hệ thống và chưa thực sự trở thành một tư tưởng, một chính sách lớn mang tính toàn diện trong thực tiễn. 

Cách đây hơn 60 năm, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ viết ngày 1/3/1947 ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo “những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ.

Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”. Sau gần 70 năm xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đã có những bước phát triển vượt bậc để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ của đất nước.

Công tác quản lý nhà nước đối với công chức, công vụ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể chế hoá và nâng lên thành nhiều đạo luật, nhiều nghị định, thông tư. Tuy nhiên, những giá trị văn hoá và giá trị thực tiễn sâu sắc của chính sách hồi tỵ do cha ông xây dựng và phát triển từ hơn 500 năm trước vẫn để lại cho chúng ta nhiều trải nghiệm và suy ngẫm... 

Ths. Nguyễn Xuân Tùng