Lời Bác ấm mãi đời tôi

Bà Trương Thị Minh ở phường Hải Châu 1 (quận Hải Châu) trong thời gian công tác tại miền Bắc đã nhiều lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng bà vẫn còn vẹn nguyên ký ức về những lần gặp Bác, vẫn nhớ như in những cử chỉ ân cần và sự quan tâm sâu sắc của Người.

Bà Trương Thị Minh ở phường Hải Châu 1 (quận Hải Châu) trong thời gian công tác tại miền Bắc đã nhiều lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng bà vẫn còn vẹn nguyên ký ức về những lần gặp Bác, vẫn nhớ như in những cử chỉ ân cần và sự quan tâm sâu sắc của Người.

 

Mô tả ảnh.
Bà Trương Thị Minh

Bà Minh quê xã Hòa Phong (Hòa Vang, Đà Nẵng), đã tham gia các hoạt động ở địa phương trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp định Giơnevơ, bà Minh và ba người con được tập kết ra miền Bắc. Đứa con nhỏ của bà hồi ấy mới hai tuổi, bị ốm nặng, được đưa vào điều trị tại Bệnh viện A ở quận Ba Đình (Hà Nội).

 

Bà Minh kể lại: Bệnh viện A lúc đó đang điều trị khoảng 30 cháu bé là con của cán bộ miền Nam mới tập kết ra Bắc. Các bà mẹ trẻ chúng tôi ngày đêm túc trực bên giường bệnh để chăm sóc con. Bỗng, sáng hôm ấy, khoảng 8 giờ, chúng tôi nghe tin có Bác Hồ đến thăm. Từ trong các buồng bệnh, chị em chúng tôi chạy ra thì đã thấy Bác ở ngoài sân bệnh viện bước vào. Lần đầu tiên được nhìn thấy Bác, ai cũng háo hức chen nhau đến bên Bác. Bác giơ tay ra hiệu trật tự, rồi nói:

- Nghe tin các cháu bị ốm, Bác đến thăm. Bây giờ, chú Thạch (Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - Giám đốc Bệnh viện A) hãy đưa Bác đến thăm các cháu ốm nặng trước nhé!

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đưa Bác đến phòng 5 (có 5 cháu bị ốm nặng, trong đó có cháu Hương, con tôi). Bác ân cần hỏi thăm từng cháu. Cháu nào đang thức thì được Bác bế lên hôn một cách âu yếm. Thăm các cháu xong, Bác ôn tồn nói với chị em chúng tôi:

- Con cái đau ốm, không ai lo lắng, vất vả bằng người mẹ, nhưng các cô cũng phải chú ý giữ gìn sức khỏe. Có khỏe mới chăm con được. Bác khuyên các cô cố ăn, cố ngủ. Đối với các cô hiện nay thì chăm con cho tốt và ăn, ngủ cho được là nhiệm vụ đấy! Mặt khác, các cô mới ra đây, lạ nước lạ cái, nên cần chú ý học hỏi và sớm hòa nhập với môi trường mới. Bây giờ Bác hỏi: Từ khi ra miền Bắc, cuộc sống của các cô thế nào? Bữa ăn có ngon miệng không? Chăn đắp có đủ ấm không?

Chúng tôi ai cũng nghẹn ngào cảm động trước sự ân cần, chu đáo của Bác. Tôi thay mặt các chị em, lễ phép đáp:

- Thưa Bác! Ra đây chúng cháu được chăm lo chu đáo, cuộc sống  đầy đủ, ăn uống, chăn màn và mọi mặt sinh hoạt đều rất tốt!
Bác tỏ vẻ hài lòng:
- Như vậy là Bác yên tâm rồi, thế các cô có đề nghị gì không?
Tôi liền thưa với Bác:
- Chúng cháu chỉ có một đề nghị là mong bệnh viện làm sao điều trị cho con của các cháu được mau khỏi bệnh.
Nghe vậy, Bác liền quay sang hỏi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch:
- Chú Thạch! Đề nghị của các cô, chú thấy thế nào?

Bác sĩ Thạch báo cáo với Bác là trong 5 cháu ốm nặng, thì 4 cháu có thể điều trị nhanh được, riêng cháu Hương do thể trạng yếu, suy nhược nội tạng nên rất khó, nhưng bệnh viện sẽ hết sức cố gắng.

Tôi thấy Bác nhíu mày, ánh mắt hiện rõ vẻ ưu tư. Bác trở lại giường bệnh và cúi xuống hôn nhẹ lên trán con tôi, đầy tình thương yêu, lo lắng… Tôi không ngờ sau chuyến thăm của Bác, con tôi đã được đưa sang chữa bệnh ở Liên Xô.

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác là vào tháng 4-1961, khi tôi mới chuyển về công tác tại Cục Cảnh sát 1. Hôm ấy, Bác đến thăm rất bất ngờ và điều tôi bất ngờ hơn nữa là vừa trông thấy tôi, Bác đã nhận ra ngay. Bác đến bên tôi và hỏi:

- Cháu  công tác ở đây lâu chưa?
Tôi nhỏ nhẹ đáp:
- Thưa Bác! Cháu mới nhận công tác ở đây được 3 tháng.
- Cháu làm nhiệm vụ gì?
- Thưa Bác! Cháu làm ở Phòng Hộ khẩu-Chứng minh nhân dân.
- Làm công tác ấy có vất vả không?
- Dạ có ạ! Nhất là vào những đợt cao điểm, công việc rất bận.
Bác cầm tay tôi, dặn dò:

- Công tác hộ khẩu, chứng minh nhân dân là rất quan trọng đối với nhiệm vụ quản lý xã hội và từ “hộ khẩu, chứng minh nhân dân”, Bác nói trại thế này để cháu dễ nhớ nhé: “Hộ khẩu - chúng mình bạn dân”.

Vào những ngày nghỉ, chị em có con nhỏ trong cơ quan Cục Cảnh sát 1  thường được phép đưa con sang chơi trong vườn Bác và thường được Bác thăm hỏi, động viên. Nhiều lần, Bác gọi chúng tôi vào ngồi quây quần dưới nếp nhà sàn, vừa chuyện trò, vừa cho bánh kẹo, tình cảm thân thiết như người cha, người ông đối với con cháu.

Đến nay, tôi vẫn còn nhớ lời dặn dò của Bác: “Mình là Công an nhân dân, tức là Công an của nhân dân, bất cứ làm việc gì cũng dựa vào dân và để phục vụ nhân dân”. Bác đã đi xa gần 42 năm, nhưng những lời khuyên bảo của Bác vẫn còn nguyên vẹn trong tim tôi và ấm mãi cả đời tôi.

Bài và ảnh: LÊ VĂN THƠM (Ghi theo lời kể của bà Trương Thị Minh)