Lo cho đê

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Trọng Tuấn cảnh báo, hệ thống đê của Hải Phòng đang phức tạp, khó khăn nhất. Đây là nhận định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, đồng thời luôn là nỗi lo thường trực của những người có trách nhiệm của thành phố.

Theo ông Tuấn, hệ thống đê của Hải Phòng dài 421 km, trong đó có 227 km đê ổn định, chiếm 54%, còn lại có tới 155 km đê kém ổn định, chưa bảo đảm an toàn, chiếm 36,8% và hơn 38 km đê xung yếu, chiếm 9,2%. Bên cạnh đó còn có 84 công trình kè dài hơn 66 km, trong đó chỉ có hơn 30 km bảo đảm an toàn, còn lại hơn 23,6 km kém ổn định, 12 km kè xung yếu có nguy cơ mất an toàn cao. Trong tổng số 398 cống dưới đê có 150 cống bảo đảm an toàn, 169 cống kém an toàn, chiếm hơn 42% và 79 cống xung yếu, chiếm gần 20%... Tuy hằng năm, Trung ương và thành phố đều ưu tiên rót kinh phí cho các dự án tu bổ đê điều, nhưng nhìn chung còn dàn trải, ăn đong và chưa đáp ứng yêu cầu. Vì thế, cũng có những cảnh báo về hệ thống đê điều và cũng phải lo cho đê mỗi khi mùa mưa bão tới.

 

Nhưng có một nghịch lý là dù có lo cho đê bao nhiêu thì kinh phí cấp tu bổ, nâng cấp cũng không thể tỷ lệ thuận với nỗi lo này được. Do đó, lo thì lo nhưng thành phố và các ngành chức năng cũng chỉ có thể giật gấu vá vai, cố gắng khắc phục những điểm xung yếu nhất. Còn lại đành phó mặc, trông mong vào sự may mắn. Mỗi mùa mưa bão qua đi mà đê điều không có sự cố gì là thở phào nhẹ nhõm.

 

Tuy nhiên, không thể cứ mãi trông chờ vào sự may mắn mà cần phải chủ động, cần hành động. Theo ông Bùi Trọng Tuấn, có nhiều việc phải làm đối với hệ thống đê điều của Hải Phòng, nhưng cần nhất là đầu tư kinh phí cho tu bổ, nâng cấp công trình thủy lợi, đắp đê, bảo đảm quy mô, quy hoạch, hoàn chỉnh tuyến đê sông, đê biển, xử lý nền đê yếu, lấp đầm hồ ao chân đê, làm kè hộ bờ chống xói lở các đoạn đê cong đang bị xói lở mạnh, cứng hóa mặt đê kết hợp với giao thông, xây mới hoặc sửa chữa, nâng cấp các cống xung yếu dưới đê, đầu tư trồng cây chắn sóng cho đê biển, đê cửa sông… Cái khó nhất hiện nay là kinh phí cần được ưu tiên, đưa vào chương trình kế hoạch hằng năm với liều lượng lớn hơn mới đủ sức “bốc thuốc” cho đê. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các nguồn kinh phí đã cấp, không để thất thoát, lãng phí, tận dụng từng đồng cho đê.

 

Và quan trọng hơn cả vẫn là ý thức trách nhiệm bảo vệ đê điều của mỗi người dân, doanh nghiệp. Nếu hàng trăm vụ vi phạm về quản lý đê điều không được xử lý nghiêm minh, dứt điểm thì nỗi lo cho đê sẽ ngày càng chồng chất, nguồn kinh phí vốn đã ít ỏi cũng không thể phát huy tác dụng. Cần hơn nữa là nỗi lo cho đê cần được truyền tới từng người dân, từng doanh nghiệp, để mỗi người nhận thức đúng đắn hệ thống đê có ảnh hưởng không nhỏ tới sự an nguy của chính bản thân mình.

 

TRỌNG NHÂN