Linh thiêng mùa 'Lệ Cô' nơi cửa biển Long Hải

Linh thiêng mùa 'Lệ Cô' nơi cửa biển Long Hải

Mỗi mùa “Lệ Cô”, khi ghe thuyền rực cờ hoa hướng mũi vào bờ chầu lễ, người ta lại thấy rõ hơn sức sống bền bỉ của một di sản đang được gìn giữ trong lòng cộng đồng.

Từ một huyền tích dân gian về người con gái trinh tiết tử nạn giữa biển khơi, Dinh Cô ở Long Hải (xã Long Hải, TP HCM) đã trở thành điểm tựa tâm linh của bao lớp ngư dân miền biển. Trải qua hơn hai thế kỷ, nơi đây không chỉ lưu giữ một truyền thuyết thấm đẫm niềm tin cộng đồng mà còn kết tinh thành một lễ hội lớn, đậm đặc sắc màu văn hóa dân gian vùng duyên hải Nam Bộ.

Từ huyền tích đến ngôi dinh linh thiêng bên biển

Ông Thái Văn Cảnh, Trưởng ban Ban Quản lý Di tích Lịch sử - Văn hóa Dinh Cô cho biết, Dinh Cô được khởi đầu xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII để thờ một trinh nữ tên Lê Thị Hồng. Cô là con của ông Lê Văn Khương và bà Thạch Thị Hà, quê ở Tam Quan, tỉnh Bình Định cũ. Năm 17 tuổi, trong chuyến theo cha vào thành Gia Định buôn bán bằng thuyền gỗ, Cô không may gặp giông bão và rơi xuống biển tử nạn.

Thi thể Cô sau đó trôi dạt vào vùng Hòn Hang (xã Long Hải), được người dân địa phương phát hiện và chôn cất trên một gò đất ven biển. Từ đó, trong dân gian bắt đầu lưu truyền những câu chuyện về sự linh hiển của cô gái trẻ. Người dân tin rằng Cô thường mộng báo điềm lành, giúp đỡ bá tánh, trừ dịch bệnh, che chở cho người đi biển và phù hộ dân làng bình an.

Ban Quản lý Di tích Lịch sử - Văn hóa Dinh Cô tổ chức lễ cúng lại Mộ Cô.
Ban Quản lý Di tích Lịch sử - Văn hóa Dinh Cô tổ chức lễ cúng lại Mộ Cô.

Từ niềm tin ấy, người dân trong vùng đã lập miếu thờ và tôn xưng là “Long Hải thần nữ Bảo an chánh trực nương nương chi thần”. Huyền tích về Cô không chỉ được kể lại trong trí nhớ dân gian mà còn được nhắc đến trong sách Đại Nam nhất thống chí. Điều này càng làm cho hình tượng Cô trở nên bền chặt hơn trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Long Hải.

Ban đầu, Dinh Cô chỉ là một ngôi miếu nhỏ mái tranh vách đất, nằm kề bãi biển. Do sóng gió liên tục làm sạt lở đất cát, ngôi miếu phải dời lên chân núi để tránh hư hại. Đến năm Canh Ngọ 1930, các vị tiền hiền cùng nhân dân địa phương đã quyên góp xây dựng lại Dinh khang trang, bề thế hơn.

Biến cố vẫn chưa dừng lại khi trận hỏa hoạn tối mùng 8 tháng Giêng năm Đinh Mão 1987 thiêu rụi tòa thánh điện. Một lần nữa, chính ngư dân địa phương và bá tánh thập phương lại chung tay đóng góp để dựng lại Dinh. Hành trình ấy cho thấy, Dinh Cô không chỉ là một công trình tín ngưỡng mà còn là kết tinh của lòng tin, của sự chở che cộng đồng và của nếp sống nghĩa tình miền biển.

Các tiết mục biểu diễn trong Lễ hội Dinh Cô.
Các tiết mục biểu diễn trong Lễ hội Dinh Cô.

Trong nhiều dị bản truyền thuyết được kể lại, ngư dân Long Hải cho rằng truyền thuyết như ghi chép trong Sổ tay di tích – văn hóa và danh lam thắng cảnh của địa phương là gần với sự thật hơn cả và được nhiều người biết đến hơn cả. Dù có cách lý giải khác nhau, các câu chuyện vẫn gặp nhau ở những chi tiết cốt lõi: Cô là trinh nữ, chết oan, linh hiển và có mộ phần với địa điểm được xác định rõ ràng. Chính sự thống nhất đó đã tạo nên nền tảng vững chắc cho niềm tin dân gian kéo dài qua nhiều thế hệ.

Sự linh ứng của Cô càng được lan truyền mạnh mẽ qua lời kể của những người dân chài từng đến cúng bái, khấn nguyện. Họ tin mình đã được Cô che chở trong những chuyến ra khơi, giúp vượt qua sóng gió, tai ương, hoặc mang lại may mắn trong cuộc sống mưu sinh. Sau mỗi lần như vậy, họ lại tìm về Dinh dâng lễ tạ ơn, khiến câu chuyện về sự linh thiêng của Cô cứ thế lan rộng từ đời này sang đời khác.

Nơi hội tụ tín ngưỡng và hồn cốt làng chài Nam Bộ

Mỗi năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch, hàng chục nghìn người từ nhiều vùng miền lại tề tựu về Long Hải dự Lễ hội Dinh Cô. Năm nay, Lễ hội Dinh Cô diễn ra trong 4 ngày từ 27 đến 30/3/2026, tức mùng 9 đến 12/2 âm lịch. Không chỉ có cư dân Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, lễ hội còn thu hút ngư dân từ Phan Rang, Phan Thiết, Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Cà Mau, Rạch Giá cùng đông đảo du khách từ trung tâm TP HCM, Đồng Nai. Dòng người đổ về tạo nên không khí tưng bừng, làm cho lễ hội Nghinh Cô trở thành một trong những lễ hội biển đông nhất khu vực Đông Nam Bộ.

Lễ hội Nghinh Cô là một lễ hội nước lớn của ngư dân ven biển Nam Bộ. Tuy thuộc loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu - Nữ thần, song lễ hội này không chỉ đơn thuần là thờ Mẫu. Trong cấu trúc nghi lễ, người ta nhận thấy sự kết hợp của lễ hội Cầu ngư, tục thờ Thần biển như Bà Thủy Long, cá voi và tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân địa phương.

Các tiết mục biểu diễn trong Lễ hội Dinh Cô.
Các tiết mục biểu diễn trong Lễ hội Dinh Cô.

Nghi thức Nghinh Cô thực chất mang dáng dấp của nghi thức Nghinh Ông trong lễ cúng cá voi, tức nghinh từ ngoài biển vào. Sự độc đáo nằm ở chỗ lễ hội đã dung nạp, hòa quyện nhiều lớp văn hóa khác nhau để tạo nên một sắc thái riêng rất khó trộn lẫn. Có lẽ chính vì thế mà Lễ hội Dinh Cô không chỉ là một sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là bức tranh thu nhỏ về đời sống tinh thần của cư dân biển Nam Bộ.

Hàng năm, lễ hội thường diễn ra trong ba ngày, mồng 10, 11 và 12 tháng 2 âm lịch, được ngư dân địa phương gọi bằng cái tên thân thuộc là “Lệ” hay “Lệ Cô”. Từ nhiều ngày trước, người dân đã sắp xếp công việc, tính toán chuyến biển sao cho kịp trở về đúng dịp. Với họ, dự lễ Cô không chỉ là một nếp sinh hoạt văn hóa mà còn là bổn phận tinh thần không thể vắng.

Sáng mồng 10 tháng 2, từ 6 giờ, Ban quý tế và ngư dân đã tề tựu về Dinh để chuẩn bị cho lễ Nghinh Cô. Đến 7 giờ, nghi thức Thỉnh Long vị Bà Lớn và ông Nam Hải về Dinh được tiến hành trong không khí trang nghiêm. Đám rước được tổ chức công phu với học trò lễ, ban nhạc, bạn chèo, long đình, cờ ngũ hành, tất cả tạo nên một khung cảnh vừa rực rỡ vừa đậm sắc màu lễ tục biển.

Tiết mục đi cà kheo tại Lễ hội Dinh Cô.
Tiết mục đi cà kheo tại Lễ hội Dinh Cô.

Sau lễ thỉnh là phần cúng Tiền hiền, Hậu hiền và lễ cầu quốc thái dân an. Trong nhịp trống, tiếng nhạc lễ và khói hương nghi ngút, người dân gửi gắm ước vọng cho mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng và những chuyến ra khơi no đầy tôm cá. Những ước vọng ấy nghe tưởng mộc mạc, nhưng lại là chỗ dựa tinh thần của cả một cộng đồng sống nương nhờ biển cả.

Ngày thứ hai của lễ hội là thời điểm phần hội bắt đầu trở nên sôi nổi hơn. Buổi sáng diễn ra hội thi chèo thúng và bơi lội, thu hút đông đảo thanh niên ngư dân tham gia. Đến tối, lễ cúng Tiên thường được tổ chức, cùng với nghi thức tụng kinh cầu an do tăng ni thực hiện, làm cho không khí lễ hội thêm phần linh thiêng.

Điểm nhấn đặc biệt trong ngày 11 là nghi thức “chầu Cô” ngoài biển. Từ chiều, hàng trăm thuyền ghe của Long Hải, Phước Hải, Phước Tỉnh và cả một số làng chài miền Trung kéo về neo đậu trước Dinh, hướng mũi thuyền vào bờ. Khi đêm xuống, đèn trên ghe sáng rực cả một góc trời, tạo nên khung cảnh lung linh hiếm thấy giữa biển đêm.

Ngư dân tin rằng thuyền ghe được trang trí đẹp là biểu hiện của lòng thành kính dâng lên Cô. Cũng bởi niềm tin ấy mà các chủ ghe đều cố gắng trang hoàng thuyền mình lộng lẫy nhất. Một vùng biển rực cờ hoa, sáng ánh đèn và dập dềnh những con thuyền chầu lễ đã trở thành hình ảnh khó quên của mùa “Lệ Cô” ở Long Hải.

Từ di tích quốc gia đến di sản phi vật thể

Ngày 12 tháng 2 là chánh giỗ, cũng là thời khắc quan trọng nhất của lễ hội. Từ 7 giờ sáng, đoàn ghe Nghinh Cô bắt đầu khởi hành ra khơi, với hàng trăm chiếc ghe tham gia, trong đó có hai ghe chính và sáu ghe hộ tống. Trên ghe bày bài vị, hương án, cúng phẩm; chủ tế, ban nhạc, lễ sinh và bạn chèo cùng thực hiện các nghi thức theo lễ thức trang trọng.

Khi đoàn ghe ra cách bờ chừng hơn 1km, chủ tế cho dừng lại để tiến hành niệm hương và cúng lễ giữa biển. Sau đó, đoàn ghe diễu hành một vòng lớn, đi qua miếu Bà Thủy Long rồi trở về bãi biển phía Tây Dinh Cô để nhập điện. Trên bờ, đội hình thanh niên cầm cờ ngũ hành đứng hai hàng đối xứng, chờ rước bài vị và hương án về an vị trong Dinh.

Hàng nghìn người dân từ khắp nơi đổ về tham dự Lễ hội Dinh Cô.
Hàng nghìn người dân từ khắp nơi đổ về tham dự Lễ hội Dinh Cô.

Một nghi thức đặc biệt làm nên bản sắc riêng của lễ hội là hát bả trạo sau khi linh vị đã an vị. Đây là hình thức diễn xướng dân gian gắn chặt với văn hóa ngư dân, rất quen thuộc ở Nam Trung Bộ nhưng hiếm gặp trong các lễ hội Nam Bộ. Sự hiện diện của hát bả trạo ở Dinh Cô vì thế càng cho thấy sự giao thoa văn hóa độc đáo giữa các vùng duyên hải.

Khoảng 9 giờ là đại lễ cúng Bà Cô. Lễ vật gồm heo quay cúng Bà Thủy Long, heo toàn sinh cúng Ông Nam Hải và các thức ăn chay dâng Bà Cô. Từ 3 giờ chiều đến quá nửa đêm, hàng loạt hoạt động diễn xướng dân gian như hát Bóng rỗi, múa bông, chầu mời, hát Chặp địa nàng tiếp tục được tổ chức, làm cho không gian lễ hội vừa linh thiêng vừa rộn rã.

Ngoài phần lễ, những ngày diễn ra lễ hội còn có hát bội, múa lân sư rồng và nhiều trò chơi dân gian như bắt cá, bắt lươn, đua thuyền, đua thúng. Đặc biệt, các cuộc thi đua thuyền, đua thúng luôn thu hút rất đông thanh niên ngư dân tham gia và nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt. Chính những hoạt động ấy đã làm cho lễ hội không chỉ là nơi hành lễ mà còn là dịp cộng đồng biển gắn kết, giao lưu và truyền trao phong tục tập quán.

Hàng nghìn người dân từ khắp nơi đổ về tham dự Lễ hội Dinh Cô.
Hàng nghìn người dân từ khắp nơi đổ về tham dự Lễ hội Dinh Cô.

Trong quần thể di tích, chính điện Dinh Cô được bài trí 7 bàn thờ, với trung tâm là bàn thờ Bà Cô. Nổi bật nhất là pho tượng Bà Cô cao hơn nửa mét, mặc áo choàng đỏ, viền kim tuyến lấp lánh và đội mũ gắn ngọc. Phía sau còn có bàn thờ Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu, Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương, Ông Địa, Thần Tài, cho thấy sự phong phú và giao thoa của tín ngưỡng dân gian nơi đây.

Một bộ phận quan trọng khác của di tích là Mộ Cô, nằm trên đồi Cô Sơn, cách Dinh khoảng 1km về phía Tây Nam. Con đường lên mộ gồm 60 bậc thang xi măng, dẫn du khách qua một không gian lộng gió, nhìn ra biển rộng. Sau đợt trùng tu năm 1999 theo phương châm xã hội hóa bảo tồn di tích, khu mộ ngày nay đã trở nên khang trang, thu hút đông người đến thăm viếng, chiêm bái, nhất là vào mùa lễ hội.

Ông Nguyễn Minh Tâm, Phó Chủ tịch UBND xã Long Hải, cho biết lễ hội Dinh Cô từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa - tâm linh gắn bó mật thiết với quá trình khai phá, hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân vùng biển Long Hải. Theo ông Tâm, trong đời sống dân gian, lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng với ước vọng quốc thái dân an, biển lặng sóng yên, ngư dân ra khơi bình an, đánh bắt thuận lợi, mà còn là di sản văn hóa quý giá được người dân địa phương gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Lễ hội Dinh Cô Long Hải được hình thành từ cuối thế kỷ XVIII và đã trải qua một hành trình dài để khẳng định giá trị. Năm 1995, Dinh Cô được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia. Đến năm 2023, Lễ hội Dinh Cô tiếp tục được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, mở thêm cơ hội để địa phương bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch.

Giữa nhịp sống hiện đại và sức ép đổi thay của đô thị, Dinh Cô vẫn giữ được vị trí đặc biệt trong lòng cộng đồng cư dân biển Long Hải. Nơi ấy, truyền thuyết không chỉ nằm lại trên trang sách hay trong lời kể của người già, mà vẫn đang được tiếp tục sống trong khói hương, trong mùa “Lệ Cô”, trong tiếng trống lễ và trong những đoàn ghe rực rỡ sắc cờ ngoài khơi. Đó là một di sản sống, nơi văn hóa, tín ngưỡng và hồn cốt biển cả vẫn đang bền bỉ neo đậu cùng lòng người.

Tiến Dũng