Lẽ ra phải tiếp cận sớm hơn

Trở về từ kỳ thi Olympic vật lý quốc tế lần thứ 37 tổ chức tại Xin-ga-po (từ ngày 10 đến 17-7) với thành tích Huy chương đồng, dường như Phạm Tuấn Hiệp, học sinh lớp 12 chuyên lý Trường THPT năng khiếu Trần Phú, chưa thoả mãn với bản thân và thành tích chung toàn đoàn. Có chút gì như nuối tiếc trong câu nói khá thẳng thắn: "Lẽ ra chúng em phải tiếp cận vật lý hiện đại sớm hơn".

- Huy chương đồng Olympic vật lý quốc tế lần thứ 37- thành tích thực đáng quý, đặc biệt khi đã lâu Hải Phòng không đoạt huy chương vật lý quốc tế. Em thấy thế nào?

- Kỳ thi Olympic vật lý quốc tế lần thứ 37, bài thi thực nghiệm của em được 12/20 điểm, thi lý thuyết được 14,5/30 điểm. Thực ra, em chưa thoả mãn với kết quả này. Tham gia thi quốc tế, học sinh Việt Nam chưa khi nào kém cạnh học sinh các quốc gia khác về nhận thức, trí thông minh. Tuy nhiên, không phải kỳ thi vật lý quốc tế nào, đoàn Việt Nam cũng giành được thứ hạng cao. Có lẽ một phần do chúng em chưa có điều kiện tiếp cận sâu với vật lý hiện đại.

- Tập huấn thi quốc gia, thi quốc tế với sự hướng dẫn của các giáo viên, giảng viên, chuyên gia vật lý hàng đầu Việt Nam, quá trình đó chưa đủ tiếp cận vật lý hiện đại?

-3 năm học trung học và giai đoạn chuẩn bị cho kỳ thi vật lý quốc gia, em được các thầy giáo, đặc biệt là thầy Sơn, luyện tập khá tốt. Nhưng nội dung ôn luyện cũng không đi sâu vào vật lý hiện đại, bởi theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kỳ thi vật lý quốc gia giới hạn không thi phần vật lý hiện đại. Ngay cả kỳ thi đại học hiện tại, trong bộ đề ôn thi môn vật lý cũng chỉ có duy nhất một câu liên quan đến vật lý hạt nhân. Chúng em chủ yếu được đào tạo sâu về vật lý cổ điển. Phải đến khi tập huấn đội tuyển quốc gia, chúng em mới được các giảng viên, chuyên gia ôn luyện về vật lý hiện đại. Dù năm nay, thời gian tập trung đội tuyển được nâng lên gấp đôi (gần 2 tháng), nhưng vẫn là quá ít cho những tiếp cận gần như mới về vật lý hiện đại và phần thực nghiệm. Trong kỳ thi quốc tế vừa qua, câu hỏi mà cả đoàn bỏ qua cũng là câu về vật lý hiện đại. Thực ra, nội dung thuyết tương đối chúng em đều học, tuy nhiên, để giải được câu hỏi trong đề thi quốc tế, cần phải có hiểu biết sâu sắc hơn nhiều.

- Đó là về lý thuyết. Còn phần thực nghiệm?

-Thực nghiệm cũng không phải thế mạnh của chúng em. Khi học trung học, chúng em được thực hành thí nghiệm, nhưng chủ yếu là về vật lý cổ điển. Mà phòng thí nghiệm nhà trường thì quá sơ sài. Đến kỳ tập huấn thi quốc gia cũng không dành nhiều thời gian cho thực nghiệm. Nhìn vào nội dung đề thi quốc gia cũng thấy: 3 bài lý thuyết và 1 bài thực nghiệm, mà chỉ là thực nghiệm trên giấy. Nghĩa là học sinh tự hình dung, tưởng tượng quá trình thực nghiệm và mô tả lại dụng cụ, nguyên liệu, thao tác, kết quả... trên giấy. Giữa mô tả thực nghiệm và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, kết quả khác nhau nhiều lắm. Em cũng từng rất lúng túng khi lựa chọn một miếng nhôm thí nghiệm. Chỉ là chọn miếng nhôm có độ dày thế nào thì cho kết quả chính xác mà cũng loay hoay mãi. Kỳ thi quốc tế lại rất coi trọng thực nghiệm, thậm chí còn cho phép sai số dưới 30% vẫn được trọn điểm, sai số đến 50% cũng được nhận 1/2 số điểm. Còn đề thi vòng 2 chọn đội tuyển quốc gia (thông thường, sau khi thi học sinh giỏi quốc gia, 30 thí sinh cao điểm nhất được vào vòng 2 rồi thi tiếp để chọn 5 người vào đội tuyển quốc gia đi thi quốc tế) hiện cũng bỏ phần thực nghiệm. Giai đoạn tập huấn thi quốc tế, quả thực chúng em được học rất nhiều về thực nghiệm, nhưng lúc đó thời gian gấp rút quá rồi.

- Giả dụ được trang bị kiến thức thực nghiệm sớm hơn, nhưng trang thiết bị và phòng thí nghiệm dành cho vật lý hiện đại đòi hỏi đầu tư lớn, trong khi nhà trường chưa đáp ứng được, liệu có giải quyết được vấn đề?

-Thực ra, suốt hai tháng tập trung đội tuyển, phần thực nghiệm mà chúng em được truyền đạt chủ yếu là về phương pháp làm việc trong phòng thí nghiệm, phương pháp thao tác, sử dụng dụng cụ, quy trình thực nghiệm... Trong kỳ thi quốc tế, khi đưa ra những thiết bị thí nghiệm hiện đại, bao giờ ban giám khảo cũng có bản hướng dẫn kèm theo. Nên không đặt ra chuyện lúng túng với thiết bị hiện đại. Vấn đề là khi mình chưa, hoặc ít thực nghiệm, sẽ lúng túng về quy trình, thao tác. Thao tác sai, đương nhiên kết quả không đúng. Không phải cứ thiết bị "xịn" mới thực nghiệm vật lý hiện đại tốt. Thời gian tập trung đội tuyển quốc gia, chúng em được đến tập huấn tại phòng thí nghiệm của giáo sư Đàm Trung Đồn - nguyên Chủ nhiệm bộ môn Vật lý chất rắn (Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội), một chuyên gia đầu ngành về thực nghiệm. Trong phòng thí nghiệm này, có rất nhiều bộ thực nghiệm do giáo sư tự chế tạo, giá thành rẻ bằng một nửa, thậm chí còn ít hơn nữa so với giá do nước ngoài sản xuất, mà độ chính xác không thua kém. Hiện tại, trường Trần Phú cũng có phòng thí nghiệm vật lý, nhưng trang thiết bị đã lạc hậu, không thể thực nghiệm vật lý hiện đại. Ngay cả trường Đại học Sư phạm 1 mà em có dịp qua trong kỳ tập huấn vừa rồi, cũng chỉ có phòng thí nghiệm đại cương.

- Dụng cụ thí nghiệm có thể tự khắc phục được, còn đào tạo thực nghiệm?

-Đào tạo thực nghiệm ở cấp trường, cấp thành phố, chúng em cũng chỉ tiếp cận chủ yếu với những thực nghiệm về vật lý cổ điển. Khi tập huấn quốc gia, chúng em mới được tiếp cận với đề thực nghiệm vật lý hiện đại của những kỳ thi quốc tế trước đó. Nhưng đề thực nghiệm mỗi năm mỗi mới, nên dường như học sinh vẫn bị chậm hơn chút ít. Để tiếp cận kịp, có lẽ cần nhiều tài liệu dịch mới hơn nữa, khi đó mới theo kịp tốc độ của vật lý hiện đại.  

- Dường như thực nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong kỳ thi quốc tế?

-Không chỉ vì ý nghĩa giải thưởng trong kỳ thi quốc tế. Vật lý là môn khoa học ứng dụng. Khi được tự tay "sờ" vào những dụng cụ thí nghiệm, niềm đam mê vật lý trong mỗi học sinh lớn lên rất nhiều. Hơn thế, trong thực nghiệm, không có chuyện áp đặt tuyệt đối theo kết quả lý thuyết thông thường. Vẫn có những xác suất, có thay đổi kết quả... Điều đó dẫn dắt học sinh lần theo chiều sâu phát hiện, từ đó lại hiểu thêm về khả năng ứng dụng của vật lý và càng say mê khoa học. Thực tế cũng thấy, không hẳn học sinh giỏi lý thuyết sẽ giỏi thực nghiệm. Còn học sinh giỏi thực nghiệm luôn là những học sinh giàu sáng tạo, có nhiều đột phá và đây mới là tiêu chí lựa chọn hàng đầu của những kỳ thi vật lý quốc tế. Những kỳ thi quốc tế gần đây cho thấy, sự đầu tư cho vật lý hiện đại và thực nghiệm của một số quốc gia trong khối ASEAN vốn đứng sau Việt Nam trong bảng xếp hạng thành tích như Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po, hiện đã mang về cho họ những thành tích đáng kể.

- Từ những điều nghiệm thấy trong kỳ thi Olympic vật lý quốc tế vừa qua, em định hướng gì cho mình trong những năm học tới tại khoa Cử nhân Khoa học tài năng - Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội)?

-Em sẽ theo đuổi môn vật lý. Nhưng ngoài ra, em nhất định phải tập trung học ngoại ngữ tốt hơn. Trong kỳ thi quốc tế vừa qua, trừ bạn Trần Xuân Quý (khối THPT chuyên vật lý, Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) giao tiếp tiếng Anh khá tốt, còn lại đều quá rụt rè vì vốn tiếng Anh có hạn. Với ngoại ngữ, chúng em cũng tiếp cận chậm. Chương trình tiếng Anh ở bậc phổ thông còn hạn chế về số tiết, nặng về luyện ngữ pháp, nên chúng em không thể giao tiếp tốt được. Còn học thêm ở các trung tâm Anh ngữ quốc tế, không phải gia đình nào cũng có điều kiện. Đối với học sinh tập huấn trong đội tuyển quốc gia, càng không có thời gian học thêm ngoại ngữ bên ngoài. Nhưng khi ra đấu trường quốc tế, hạn chế ngoại ngữ làm giảm khả năng giao lưu và tiếp nhận thông tin rất nhiều. Hơn nữa, muốn tiếp cận "thời sự vật lý", em cũng phải thông thạo ngoại ngữ để tự đọc tài liệu chuyên ngành của nước ngoài. Trông chờ vào tài liệu dịch rất chậm, thậm chí không có./. 

 

 

Thành tích học tập của Phạm Tuấn Hiệp:     

-    Giải Nhất vật lý toàn thành phố lớp 10, 12

-    Giải Nhì vật lý quốc gia lớp 12

-    Giải Ba (lớp 10) và giải Nhì (lớp 12) Báo Toán học và Tuổi trẻ

-    Huy chương đồng Olympic Vật lý lần thứ 37 tổ chức tại Xin-ga-po.

                                      

 

Olympic vật lý quốc tế lần thứ 37 có 37 HCV, 48 HCB, 83 HCĐ, trong đó:

-Trung Quốc: 5 HCV

- Việt Nam: 4 HCĐ

-In-đô-nê-xi-a: 4 HCV, 1 HCB

- Thái Lan: 1 HCV, 4 HCB

- Xin-ga-po: 1HCV, 1 HCB, 3 HC

(Nguồn IPhO 2006)