Lấy chồng ở khu vực biên giới, đăng ký kết hôn ở đâu?
Tôi sống ở vùng biên giới của tỉnh Lào Cai, vì lý do đi lại rất khó khăn nên tôi muốn hỏi quý báo về trường hợp sắp tới tôi có kết hôn với một người cũng ở khu vực biên giới nhưng là người Trung Quốc thì tôi phải đăng ký ở đâu vì khoảng cách từ nơi tôi sống đến huyện là khá xa?.
Chị Mai Kiều Thu (Lào Cai) hỏi: Tôi sống ở vùng biên giới của tỉnh Lào Cai, vì lý do đi lại rất khó khăn nên tôi muốn hỏi quý báo về trường hợp sắp tới tôi có kết hôn với một người cũng ở khu vực biên giới nhưng là người Trung Quốc thì tôi phải đăng ký ở đâu vì khoảng cách từ nơi tôi sống đến huyện là khá xa?.
- Theo quy định tại Điều 66 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân & Gia đình có yếu tố nước ngoài thì: "UBND cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch"
Như vậy, trong trường hợp của bạn thì bạn có thể liên hệ với UBND xã nơi bạn thường trú để thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Chưa hòa giải, tòa không nhận đơn
Ông Phạm Đình Trọng ở Đà Nắng hỏi: Tôi có tranh chấp đất đai, nhưng khi tôi viết đơn nhờ chính quyền xã can thiệp thì không được giải quyết. Tôi viết đơn khởi kiện lên Tòa án, cán bộ tòa án không nhận đơn với lý do chưa có biên bản hòa giải của xã. Vậy có đúng không?
- Các tranh chấp đất đai bắt buộc phải thực hiện việc hòa giải tại UBND cấp xã. Cụ thể, theo quy định tại Điều 135, Luật Đất đai 2003, được hướng dẫn tại Điều 159, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai, thì khi có tranh chấp, các bên tranh chấp đất đai phải chủ động gặp gỡ để tự hoà giải, nếu không thoả thuận được thì thông qua hoà giải ở cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai.
Nếu các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hoà giải. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai. Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.
Việc hoà giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hoà giải thành hoặc hoà giải không thành của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Biên bản hoà giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.
Như vậy, việc UBND xã không tổ chức hòa giải tranh chấp trong trường hợp của ông là không đúng quy định của pháp luật. Cán bộ tòa án trả lại đơn và không thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà là có căn cứ.
PLVN