Làng ven sông
Hoàng Phương Nhâm
Tôi sinh ra ở một làng nhỏ ven sông. Từ lâu lắm, làng tôi đã có nghề trồng đay. Giữa lòng sông nổi lên một bãi rộng, đến nỗi năm tôi lên bảy tuổi, mẹ tôi cho theo ra bãi, tôi luồn lách trong ruộng đay, chạy gần như hết buổi vẫn chưa hết chiều dài của bãi. Người làng tôi ngày ngày chèo thuyền ra bãi trồng đay. Cuối vụ thu hoạch, tước bẹ, nửa phơi khô, nửa ngâm thành tơ đay trắng muốt đem bán bên chợ huyện. Ngay đầu làng tôi có bến đò ngang. Người trong làng qua bến đò ấy sang chợ.
Chị mồ côi từ bé, sống với bà ngoại trong ngôi nhà tường đất mái rạ chỉ cách nhà tôi một hàng dậu trúc. Tôi thường lách qua hàng dậu trúc thưa để sang chơi bên ấy. Ngày chợ phiên, chị cùng mẹ tôi gánh đay qua đò bán cho hàng buôn bên chợ. Ngay cạnh bến đò có một cây gạo cổ thụ thân to mấy người ôm. Cứ tháng ba đến cây gạo lại trổ hoa đỏ rực cả bến sông. Từ ngoài bãi nhìn vào cây gạo y như một bó đuốc đang cháy, sáng cả một khoảng trời. Lũ trẻ con chúng tôi hay ra bến nhặt hoa gạo rụng về chơi trò chọi gà. Nếu người lớn không giục ăn, giục ngủ thì chúng tôi có thể bày trò chơi hoa gạo thâu đêm suốt sáng cho đến khi nào cây gạo cạn mùa hoa. Dường như cây gạo cũng hiểu điều đó, nên khi chúng tôi chí choé tranh nhau những bông hoa rụng dưới gốc, cây gạo lại thong dong thả những đài hoa còn tươi rói cho chúng tôi nhặt. Vào mùa hoa gạo, mỗi khi đi chợ về, trong thúng của chị bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm như lửa để cho tôi. Nhiều khi chị còn lặng lẽ đứng nhìn tôi say sưa chơi trò chọi gà bằng những bông hoa gạo chị vừa nhặt đem về. Tháng ba qua rồi, cây gạo đã kín đáo giấu những quả nhỏ trong xanh um tán lá. Quả gạo xinh như con quay nhỏ bằng quả cau. Cây gạo lại cho bọn trẻ chúng tôi một trò chơi mới bằng những quả nhỏ rụng dưới gốc. Chỉ cần giật nhẹ sợi dây quấn chung quanh là con quay bằng quả gạo đã xoay tít và 'ngủ' không chê vào đâu được! Buổi trưa, đi tước đay ngoài bãi về, chị lại đứng bên kia dậu trúc ới tôi ra và dúi cho tôi cái bánh nếp vừa mua ở hàng bà Béo ngoài bến đò và một vốc những con quay bằng quả gạo. Bao giờ tôi cũng có những quả gạo tươi nhất, rắn nhất để làm quay chơi với lũ bạn. Tôi chẳng mấy khi bị thua trong những trò chơi bằng những thứ chị mang về cho từ cây gạo ven sông.
Thấm thoắt mùa hè hết. Hoa đay nở vàng ngoài bãi. Gió mát rượi bến sông. Từ trên cao, quả gạo tự tách lần vỏ cứng để lộ ra những múi bông gòn trắng muốt. Chiều chiều, những cơn gió heo may đầu mùa về chơi trò đuổi bắt trong tán lá của cây gạo. Như là chỉ chờ có vậy, cây gạo già nhặt nhạnh từng nhúm bông gòn còn vướng trong vỏ quả khô thả xuống, cho gió mang đi đến nơi nào có thể đến được. Những cơn gió lười biếng không chịu mang những nhúm bông trắng đi xa, chúng chỉ bay la đà trên thảm cỏ. Bông gạo đậu trắng bờ đê. Thế là lũ trẻ con chúng tôi lại có một trò chơi mới. Chúng tôi đi gom những nhúm bông gạo vương trên cỏ, thi nhau phồng má, trợn mắt lên thổi thi xem đứa nào thổi cho bông gạo bay cao nhất, xa nhất. Chị bảo, bông gạo nhồi gối rất êm. Thế là tôi nhặt về cho chị. Chị gom lại cất vào một cái túi ni lông màu xanh thẫm. Khi cây gạo thôi không thả những sợi bông xuống vạt cỏ ven đê, tôi thấy có một người đàn ông đi về nhà chị. Người ấy cứ đi lại nhà chị nhiều lần. Lần nào tôi cũng thấy má chị ửng hồng như người vừa uống rượu. Người ấy về rồi chị còn đứng vân vê gấu áo nhìn theo. Tôi nghe bà ngoại chị mừng rỡ khoe với mẹ tôi rằng, bà đã đồng ý cho người ta sang chạm ngõ. Tôi không hiểu vì sao mẹ tôi cũng mừng không kém. Một buổi chiều, chị lại đứng bên hàng dậu trúc, khe khẽ gọi tôi sang và đưa cho tôi một chiếc gối làm bằng vải phin trắng, bên trong nhồi đầy bông gòn của cây gạo. Tôi thản nhiên cầm lấy chạy tọt về nhà, đặt lên đầu giường và nằm gối đầu lên chiếc gối. Nó êm và thoang thoảng thơm như mùi cỏ mật. Tôi ngủ lúc nào không biết.
Nghề làm đay vất vả hơn cả nghề trồng lúa, trồng màu. Có lẽ vì thế mà con gái làng tôi chả có mấy người dễ coi. Bù lại, con gái quê tôi tính tình đằm thắm, lam làm và nhẫn nhịn. Mẹ tôi bảo, con gái làng tôi khó lấy chồng, vì thế nhiều cô phải cắp nón tha hương. Chị là một trong những người may mắn.
Khi chị xuống đò sang ngang với người ta rồi, tôi mới thấy sự trống vắng đến lạ lùng. Đứng bên hàng dậu trúc nhìn sang sân nhà chị lúc nào cũng vắng hoe, tôi thấy như bị bỏ rơi. Tôi thẫn thờ ra bến đò. Cây gạo cũng buồn bã, giận dỗi ào ào trút lá xuống đầu tôi. Cây gạo như nhân chứng gợi cho tôi luôn nhớ đến chị. Tháng ba về, cây gạo lại trổ hoa đỏ rừng rực cả một khoảng trời. Những đài hoa hững hờ rơi quanh gốc. Lũ trẻ trong xóm cãi nhau như chim ri vỡ tổ tranh nhau những đài hoa tươi nhất. Tôi không có trong đám trẻ ấy. ở ven đê, tôi ngồi khuất sau lùm cây trinh nữ, lặng lẽ ngóng sang bờ bên kia. Mẹ tôi đã cùng người trong xóm chèo thuyền ra bãi làm đất để gieo hạt đay. Tôi không đòi ra theo, vì ở đấy còn đâu tấm lưng áo nâu mồ hôi muối làm ố từng mảng trắng trong đám người trên bãi. Kệ cho vụ đay mới bắt đầu.
Thời gian trôi. Không ngờ bóng hình của chị vẫn còn nguyên vẹn trong nỗi nhớ làng của một gã trai mới lớn. Thời gian không dừng lại. Tôi đi nghĩa vụ quân sự, đi học, rồi lại về làng. Làng tôi vẫn trồng đay ngoài bãi. Cánh bãi bây giờ còn rộng hơn ngày trước, nhưng người làng tôi vẫn nghèo như xưa. Cây gạo già vẫn trầm tư đứng cạnh bến đò. Mùa hoa chưa đến. Mùa quả gạo chín cũng đã hết rồi. Không còn thấy những sợi bông gạo lang thang theo gió. Tôi chạnh nghĩ không biết bây giờ chị sống ra sao? Nơi chị về làm dâu có cho chị cuộc sống khá hơn nơi sinh ra chị? Những ý nghĩ ấy tự dưng đốt bỏng trái tim tôi làm tôi không thể ngồi yên một chỗ. Thế là tôi cũng khăn áo ra đi. Đi tìm cho mình một chút gì tạm để lòng mình yên ả. Cuộc sống đưa đẩy tôi từ vùng nông thôn ra thành thị. Cái nghề tôi học được trong nhà trường không đủ cho tôi kiếm được một chỗ làm ở thành phố. Tôi lại theo bạn bè về một khu công nghiệp, hy vọng kiếm được việc làm. Qua mấy vòng tuyển, tôi được vào làm ở một nhà máy sản xuất các loại hàng xuất khẩu từ đay. Thứ đay giống như đay người làng tôi trồng bạt ngàn ngoài bãi. Tôi ngạc nhiên. Nhìn những sản phẩm tinh xảo được làm từ cây đay, trong tôi nhen nhóm một ước mơ. Ngày ngày, tôi cặm cụi làm và học lỏm được nhiều thứ. Mơ ước trong tôi ngày một lớn thêm, nhưng lưng vốn tôi góp được từ đồng lương còn quá ít ỏi, quá nhỏ bé so với điều tôi mơ ước. Ngày ngày tôi vẫn lụi cụi đạp xe vào xưởng với niềm mơ ước của mình, hy vọng một ngày nào đó cây đay làm cho người quê tôi được đổi đời, mở mày mở mặt với thiên hạ.
Lâu lâu sau, tôi được nghỉ sau một đợt giao hàng lớn, tôi tranh thủ mấy ngày về thăm nhà. Con đường về quê tôi đang làm mới từng đoạn. Chỉ nay mai, con đường làm xong, ô tô về được tận làng. Tôi hồi hộp như lần đầu mẹ cho về quê ngoại xem hội làng. Về đến đầu làng tôi ngỡ ngàng như đang mơ ngủ, bởi màu xanh của đay mướt mát trải khắp đồng trong bãi ngoài. Cây lúa chỉ còn ở cánh đồng trũng. Từ xa, tôi đã thấy cây gạo già vẫn xanh um lá, sừng sững đứng trên bến đò, vẫn cái dáng trầm tư như đang ngóng đợi người trở lại. Một cảm giác nao nao xâm chiếm lòng tôi. Bây giờ chắc đang mùa gạo chín. Không biết bông gạo năm nay có thả trắng triền đê? Có còn đứa trẻ nào như tôi ngày xưa tha thẩn nhặt bông gạo trắng muốt, xốp nhẹ như mây và có người con gái mồ côi nào cần những sợi bông gòn ấy về nhồi gối? Tôi chưa về nhà mà ra thẳng bến đò. Những năm xa nhà, ngày ngày với bộn bề công việc, nhưng khi đêm về nằm vắt tay lên trán, tôi lại thấy cây gạo già trên bến đò quê, thấy cô gái mồ côi, mồ hôi muối loang từng vệt trắng trên lưng áo. Ngồi dưới gốc gạo tưởng như được gặp lại cố nhân, tôi lại thầm ao ước. Ao ước đến cồn cào khi những con đò đã đưa người trong làng làm đay từ cánh bãi giữa sông trở về. Chỉ có mẹ tôi trong đám người ấy. Thấy tôi ngồi đợi trên bến, mẹ mừng như bắt được của. Tôi lại theo chân mẹ về nhà như ngày nào. Chỉ thiếu một người cùng đi là chị. Mỗi bước theo sau chân mẹ, tôi lại sững sờ trước những đổi thay kỳ diệu của quê hương. Làng tôi không còn vẻ gì của sự nghèo đói khi xưa nữa. đường làng trải bê tông vào đến từng ngõ xóm. Nhà ngói, nhà mái bằng thấp thoáng dưới bóng tre xanh. Hàng cột bê tông đưa điện vào từng gia đình. Một ngôi trường ba tầng ríu ran tiếng trẻ học bài ngay đầu xóm. Mẹ tôi rằng, người làng tôi được đổi đời từ ngày làm hàng đay xuất khẩu. Người góp phần thay đổi cuộc sống người làng tôi lại chính là chị, cô gái mồ côi nghèo khó trong ngôi làng nghèo khó của tôi.
Tiếng chân bước vồi vội, tiếng nước rửa chân ngoài giếng và tiếng ai se sẽ gọi: 'Dì ơi!'. Tôi thảng thốt nhìn ra. Lại một lần nữa khiến tôi sững sờ khi bắt gặp những vệt mồ hôi muối loang trắng từng vệt trên lưng áo.