Làng nghề mây, tre Tiên Sa ( An Dương)- Đìu hiu vì thiếu vốn
Thôn Tiên Sa (xã Hồng Thái, An Dương) nổi tiếng về sản phẩm đăng, đó và các dụng cụ đánh bắt thủy sản. Trên đường về Tiên Sa, tôi hình dung một làng nghề đang hoạt động với sự hối hả, náo nhiệt. Vậy mà, đi đến tận giữa thôn, vẫn không thể tìm ra dấu hiệu nào chứng tỏ một làng nghề đang tồn tại.
Dừng xe, hỏi thăm một người dân, tôi nhận được câu trả lời: “Ngày trước chúng tôi làm nhiều, giờ không làm nữa. Chỉ còn Xí nghiệp tập thể thương binh Hồng Thái vẫn cậm cạch với nghề”!?
Xưởng sản xuất của xí nghiệp vắng tanh, chỉ có một lao động đang đan đăng và ông giám đốc cùng làm. Trò chuyện với tôi, ông Phạm Văn Xưởng – Giám đốc Xí nghiệp tập thể thương binh Hồng Thái tâm sự: Trước kia, 100% số gia đình trong thôn làm nghề. Sản phẩm làm ra vừa cung cấp cho thị trường, vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của nhân dân trong thôn. Đến thời điểm nay, số hộ làm nghề còn rất ít, chủ yếu là lao động lúc nông nhàn, những người già, yếu với các công việc như vót nan, đánh cửa vỉ…Xí nghiệp tập thể thương binh Hồng Thái được thành lập tạo điều kiện đầu tư, phát triển làng nghề.
Từ những cố gắng đó, năm 2007, làng nghề Tiên Sa được công nhận làng nghề cấp thôn. Tuy nhiên, từ khi được công nhận làng nghề, diện mạo của làng không có gì thay đổi và có phần “trầm lắng” hơn. Ông Xưởng cho biết: Để duy trì làng nghề không khó nhưng để phát triển thì không đơn giản! Phát triển nghề cần nguồn vốn và người có tâm. Hiện nay làng nghề gặp nhiều khó khắn. Một bộ phận lớn người lao động “chê” tiền công làm nghề thấp, chọn công việc khác để làm. Nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng gặp khó khăn. Xí nghiệp đặt mua nguyên liệu chủ yếu ở Ba Chẽ (Quảng Ninh), nhưng do công vận chuyển tăng, giá thành cao, nguyên liệu thường xuyên về kho muộn so với hợp đồng. Thị trường tiêu thụ cũng bị thu hẹp dần. Trước đây, sản phẩm của xí nghiệp chủ yếu cung cấp cho khu vực nuôi trồng thủy sản Đình Vũ, Tràng Cát và nhiều nơi khác như Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định…Hiện nay, những nơi này, diện tích nuôi trồng bị thu hẹp, nhu cầu về sản phẩm giảm hẳn.
Bên cạnh đó, việc cơ giới hóa, hiện đại hóa trong đánh bắt, nuôi trồng thủy sản cũng ảnh hưởng lớn tới tiêu thụ sản phẩm của làng nghề. Một nguyên nhân quan trọng khác kìm hãm sự phát triển của nghề, đó là nguồn vốn. Ông Xưởng cho biết, phải có vốn lớn mới duy trì được hoạt động của làng nghề. Bởi muốn có sản phẩm chất lượng, bán được số lượng lớn, tre tươi phải ngâm nước 1 năm trước khi dùng. Bình thường, một năm xí nghiệp xuất hàng làm 2 lần: khoảng tháng 5,6 và tháng 11,12. Sản phẩm hoàn thiện được dự trữ trong kho gần nửa năm mới mang đi tiêu thụ. Tiền công lao động, tiền mua nguyên liệu, tiền vận chuyển từ các đại lý nhỏ tới nơi hoàn thiện… đều chờ cả vào tiền bán sản phẩm. Thực tế này khiến nhiều đại lý nhỏ thuộc xí nghiệp thành những “con nợ”, vì không có điều kiện “nuôi” vốn lâu dài. Được công nhận làng nghề, có đơn vị sản xuất và bao tiêu sản phẩm, nhưng cơ hội vay vốn phát triển ít, đành bó tay!
Thanh Tâm