Lần đầu đến Mỹ (phần tiếp): Một giấc mơ giao hưởng
Ở Mỹ, tôi đã mua vé có nạp thuế để vào những quán Mehico nghe âm nhạc Mariachi, những quán người da đen để nghe nhạc Blue nguyên chất với giọng ca của zoo-zoo cất lên da diết chỉ một câu than thở: "nàng đã đánh cắp trái tim tôi".
Cũng như thế tại New York, sau khi xem xong bảo tàng Metro politan, tôi lại được xem các chàng trai da đen hát những câu nhạc Rap quảng cáo thương hiệu và nhảy múa nhào lộn như các nhóm "Mãi Võ Sơn Đông" ở châu Á.
Rồi những chàng trai ấy lại gặp chúng tôi ở Boston.
Ở Mỹ, trước khi có một nền âm nhạc bác học, từ lâu đã có những âm hưởng dân gian bay trong đời sống từ người da đỏ, người da đen, người chăn bò... Đến khi xuất hiện nền âm nhạc bác học thì cũng xuất hiện thể loại âm nhạc đại chúng đỉnh cao là nhạc Jazz. Bắt nguồn từ New Orleans, nhạc Jazz với nghĩa từ là "không rõ ràng" đã được tập hợp từ các yếu tố nhạc rac-tim của người Mỹ da đen, đã được hoàn thiện bởi các tài năng như Louis Amstrong, Billic Holiday và nhất là sau khi được "châu Âu hóa" nhờ tài năng của Duke Ellington, nhạc Jazz đã ngự trị âm nhạc đại chúng trong khoảng 4 thập kỷ hoàng kim. Từ cuối những năm 1940, một thể loại mới mang chất trí tuệ hơn nhạc Jazz chủ yếu sử dụng dàn nhạc gọi là be bap bắt đầu hút khán giả bởi những tài năng như nghệ sĩ saxophone Charlic Parker hoặc nghệ sĩ kèn trompet Miles Davis... Tuy nhiên từ đầu những năm 1950, thay thế phần lớn sàn diễn âm nhạc đại chúng, là nhạc Rock and Roll phát triển từ phong cách nhạc của người da đen "Rhythm and Blue". Những ca khúc với nhịp đập mạnh mẽ và lời ca táo bạo. Công nghệ marketing tuyệt vời của các nhà sản xuất đĩa đã nghĩ cách đánh tráo khái niệm, đưa nhạc Rock and Roll cho nghệ sĩ da trắng trình diễn thì chắc chắn sẽ có sức cuốn hút rất lớn. Và Elvis Presley đã được họ chọn lựa. Thắng lợi của Rock and Roll qua Elvis Presley đã đạt tới mức ngoài tưởng tượng. Giọng hát truyền cảm và vẻ đẹp hấp dẫn cùng cách "lắc và quay" hơi thoáng chút khiêu dâm đã làm cho cả thế giới đang chìm đắm trong chủ nghĩa hậu hiện đại tưởng lầm đây mới là âm nhạc đích thực, đỡ nhàm chán hơn âm nhạc bác học, kinh viện. Người ta còn kín đáo thêu dệt Elvis Presley là nhà tư tưởng, khiến những biểu hiện vô tình của nghệ sĩ này cũng được các nhà tư tưởng già cỗi của châu Âu tô son vẽ phần thành những tư tưởng cấp tiến, mới lạ. Song chính sự trớ trêu đó đã là một cú huých đúng lúc cho âm nhạc châu Âu đang trì trệ bởi di chứng tan nát của Thế chiến Hai và âm nhạc châu Âu thực sự từ cung đình, nhà hát bước ra vỉa hè thấm đẫm tư tưởng nổi loạn của chủ nghĩa hậu hiện đại. Sự xuất hiện của Tứ quái nhóm nhạc The Bcafls và sau đó đến Rolling Stones đã làm khuynh đảo thế giới, khuynh đảo ngược lại xứ sở sinh ra thể loại này là nước Mỹ. Sự kiện lớn làm rung mình nước Mỹ khi tại nhà hát Broadway (New York), nhóm The Beatles hát lên câu hát: "Anh muốn nắm bàn tay em" (I want to hold your hand) từ những nốt trầm đồng âm vút lên quãng tám đúng căng thẳng. Và sau "Rock and Roll" là nhạc pop và nhạc đồng quê (Country) làm thế giới nhất là giới trẻ mê đi ngỡ là đã có thứ âm nhạc cao siêu cứu chuộc thế giới.
Trong khi lừa mị thế giới bằng công nghệ marketing siêu hạng, nước Mỹ vẫn thầm lặng đẩy dần nền âm nhạc bác học lên những tầm cao. Những tên tuổi từ Lonis Moreau Goffschalk đến Aaron Copland với giao hưởng "Một người Mỹ ở Paris" đã đưa ngôn ngữ giao hưởng Mỹ lên một tầm cao đáng nể. Vừa đào tạo những nhân tài trong nước, nước Mỹ còn đứng hàng đầu nhân loại bằng việc không tiếc tiền mua về hợp chủng quốc của mình nhưng thiên tài thế giới như I.Stra- vilsky, A.Schon berg. Nhưng chính vì cái nhìn coi tất cả những nhân tài thế giới là nhân tài của Mỹ đã khiến cho nước Mỳ sau những nhà soạn nhạc tài năng như Aaron Copland, những nghệ sĩ tài năng như Horowith đã không đào tạo thêm được những nhân tài nào từ trong nước Mỹ có tài âm nhạc ở tầm vóc thế giới. Sai lầm đó từ chỗ hành tiến, coi mình là nước lớn, các trường dạy nhạc của Mỹ đã bỏ giáo trình kiểu châu Âu và tự soạn lấy giáo trình giảng dạy. Tuy nhiên, giáo trình giảng dạy của châu Âu cũng đã quá lạc hậu. Nhưng khi có cuộc cách mạng về ngôn ngữ âm nhạc tại Paris 1968 với sự xuất hiện của trường phái "Tiên phong" (Avant-gard) thì nước Mỹ không còn đủ khả năng theo kịp sự biến chuyển này. Họ đành tạo ra những thế hệ mãi mãi chỉ là học trò của I.Stravilsky và A.Schonberg.
Bởi vậy, các nhà sản xuất cứ khua chiêng gõ mõ, lập lờ đánh lận con đen giữa âm nhạc đại chúng với âm nhạc bác học ra thế giới, tuy ở trong nước thì vẫn có thái độ cư xử đúng mức với hai dòng âm nhạc này. Nhờ sự lên ngôi của âm nhạc đại chúng trong thời kinh tế thị trường mà ở Việt Nam mọc lên bao siêu sao giầu có, hợm hĩnh dù chấp nhận hát quảng cáo cho băng vệ sinh, bột giặt, mỳ ăn liền, máy điều hòa... Cả những nghệ sĩ có học cũng lao vào cơn lũ mưu sinh này và đồng hạng với những nghệ sĩ "mù nhạc". Ai đó dính một tỷ Mỹ vào là vênh vang như một thiên tài. Chỉ có rất ít những người học hành một cách nghiêm chỉnh đã vừa nhận ra vươn tới đỉnh cao là một điều hết sức khó khăn nhưng không phải là hết hy vọng. Một Vũ Ngọc Linh qua các cuộc thi piano. Một Quyền Thiện, Đắc trong lĩnh hội nhạc Jaff. Một Nguyễn Bội Cơ trong lĩnh vực chỉ huy giao hưởng. Một Thăng Long trong cuộc thi hát thính phòng ở Mỹ. Một Phan Quang Minh trong Festival guitar quốc tế Baltimor... Tất cả còn quá ít để tạo nên một ấn tượng âm nhạc Việt Nam tại Mỹ. Hiện nay ở Mỹ, chỉ có rối nước Việt Nam với các làn điệu chèo là có thể lấy được tiền của người Mỹ. Còn với các "siêu sao" pop-rock nhà ta thì chỉ kiếm tiền quanh quẩn trong cộng đồng người Việt ở xứ sở này mà thôi.
Tôi đã đến một nhạc viện ở bang Maryland và choáng ngợp giữa những tòa cao với rất nhiều các phòng biểu diễn khác biệt.Ở đây vừa diễn ra cuộc thi quốc tế của các nghệ sĩ piano trẻ tuổi. Họ đã đem lại cho mùa hè náo nhiệt những âm thanh của những cây đàn Steinwey A'quene cực tốt. Nhạc viện có đến 300 phòng tập với 300 cây đàn như thế. Một môi trường âm nhạc lý tưởng. Thật cảm động khi nhìn thấy cháu Phan Thanh Hương 11 tuổi vốn là học trò của thầy La Thương (Nhạc viện Hà Nội) giờ theo cha sang đây, được ngồi tập với cây đàn sang trọng này mà ở Hà Nội thì nằm mơ cũng không thấy. Nhưng dù nằm mơ, tôi cũng mơ một giấc mơ giao hưởng Việt Nam. Nếu Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam đã rung được tiếng chuông ở Paris nước ngoài, thì không có lý do gì mà trong tương lai lại không thể hiện diện ở nước Mỹ. Cần có một chiến lược đắt giá và thông minh.
Những sân bay nước Mỹ
... Ở Mỹ, với phương tiện giao thông, không dễ nơi nào sánh kịp đã tạo ra văn minh riêng của nó. ở Mỹ, thật ngô nghê khi anh định xê dịch bằng xe bus, xe lửa hay máy bay mà lại tìm đến quầy bán vé. Tất cả giao dịch kể cả trả tiền vé đều thông qua mạng. Tôi đang giữ làm kỷ niệm những tờ giấy khổ A4 có đủ mã vạch để kiểm tra của các hãng máy bay trong nước Mỹ như Continental Airlines hay Air Tran Ainways... Cứ thế, chỉ bằng những tờ giấy như vậy, khi đến sân bay, tới đúng cửa hãng, là có thể nhận được vé lên máy bay rất nhanh chóng.
Nhờ những tờ giấy ấy, chúng tôi đã hạ cạnh và cất cánh trên nhiều sân bay nước Mỹ. Đặc biệt chung của các sân bay nước Mỹ là rộng mênh mông và sân bay Atlanta rộng nhất. Rộng nhưng chỉ dẫn rất rõ ràng. Với vốn tiếng Anh không lây gì làm nhiều, chúng tôi vẫn đi tới các chuyến bay trọn vẹn mặc dù đôi lúc cũng phải vò đầu bứt trán tìm cho được cửa ra như ở sân bay Dulles của thủ đô Washingtom. Đi mãi rồi cũng thành quen.
Đi mãi rồi mới thấy tiếc khi “trông người lại ngẫm đến ta”. Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua do bị chiến tranh xâm lược mà làm cho các nước láng giềng và các nước trong châu lục giầu lên bởi tham gia hậu cần, tham gia lính đánh thuê cho Mỹ. Nhờ thế mà Thai Lan, Hàn Quốc mới mở mày mở mặt như hôm nay. Sau chiến tranh do bị cấm vận nên không có đường bay cho bà con Việt Kiều thường xuyên về thăm quê. Lập tức các hãng hàng không của Hồng Kông, và Đài Loan đứng ra hấng trọn vẹn dịch vụ này và ăn đủ. Nhưng đến khi bỏ cấm vận, Việt Nam Air lines được phép có đại diện tại Mỹ ở San Fransi có thì đại diện đã mất khả năng cạnh tranh quyết liệt bởi thói quen của nhiều năm bao cấp được chăng, hay chớ....
Phi công các hãng hàng không của Mỹ có một cách cất cánh rất độc đáo. Họ thường chạy dọc đường băng rất ngắn, rồi tăng tốc cất cánh dốc máy bay nghiêng so với mặt bằng đường băng ít nhất từ 45 độ trở lên. Chúng tôi đùa với nhau rằng đấy là cách cất cánh của những chàng cao bồi. Ngược lại, khi hạ cánh, nếu hành khách nào sơ ý ngủ quên trong khoảng khắc đó thì chắc chắn không biết mình đã hạ cánh, bởi kỹ thuật hạ cánh quá nhẹ em của các phi công.
Không chí hết mình trên máy bay, ở sân bay nào cũng gặp những nhân viên tận tình chỉ bảo, giúp đỡ hành khách. Ở sân bay Atlanta buổi tối hôm đó, đoàn nhà văn Việt Nam đã có một kỷ niệm về nước Mỹ có thể nhớ đời. Do phải chuyển máy bay tại Atalanta trong chuyễn bay từ Washington D.C đến Honston, để cẩn thận, trưởng đoàn nhà văn chúng tôi là giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã tới quầy chỉ dẫn hỏi xem có phải nhận hàng để chuyển sang máy bay khác hay hãng đã tự động chuyển. Người đứng quầy vui vẻ trả lời là hãng đã tự động chuyển. Cũng do cẩn thận khi hỏi, anh Hiến xuất trình cả hộ chiếu. Đến khi được trả lời, thì ngài giáo sư đãng trí đã quên lấy hộ chiếu trên quầy và cứ thế phăm phăm vào phòng cách ly. Trong sân bay Atlanta mênh mông nhất nước Mỹ, người đứng quầy đã phải vất cả đến gần một tiếng mới tìm được giáo sư để trả lại tấm hộ chiếu.
Trích bút ký của Nguyễn Thụy Kha