Làm chủ công nghệ Việt, hồi sinh mỏ dầu từng được chuyển giao với giá 1 USD

Làm chủ công nghệ Việt, hồi sinh mỏ dầu từng được chuyển giao với giá 1 USD
Đội ngũ cán bộ, kỹ sư tại giàn khai thác Đại Hùng 01. (Ảnh: MST)

Từng đứng trước nguy cơ phải dừng khai thác và được chuyển giao với giá tượng trưng 1 USD, mỏ Đại Hùng đã được khôi phục, mở rộng nhờ những giải pháp khoa học và công nghệ do đội ngũ kỹ sư Việt Nam nghiên cứu, làm chủ. Giai đoạn 2003-2025, dự án đạt doanh thu hơn 4,5 tỷ USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 653 triệu USD.

Hồi sinh mỏ dầu từ những giải pháp sáng tạo

Cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo đột phá để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng” được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7 năm 2026, theo kết quả Bộ Khoa học và Công nghệ công bố vừa qua.

Giá trị nổi bật của công trình không chỉ là đưa một mỏ dầu từng bị đánh giá không hiệu quả về kinh tế trở lại hoạt động, mà còn ở việc làm chủ đồng bộ các giải pháp công nghệ, từ thiết kế công trình biển, xây dựng hệ thống khai thác đến nghiên cứu địa chất, xác định tầng chứa dầu và lựa chọn vị trí khoan. Những kết quả này góp phần khẳng định năng lực nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ công nghệ của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi.

Nằm tại lô 05-1(a), bể Nam Côn Sơn, mỏ Đại Hùng có điều kiện địa chất phức tạp, trong khi chi phí đầu tư và vận hành các công trình ngoài khơi rất lớn. Trong giai đoạn do các nhà thầu quốc tế điều hành, mô hình khai thác ngầm được áp dụng không mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Sản lượng dầu từng giảm từ khoảng 35.000 thùng/ngày xuống chỉ còn hơn 2.000 thùng/ngày, khiến dự án đứng trước nguy cơ phải dừng khai thác.

Năm 1999, mỏ Đại Hùng được chuyển giao cho phía Việt Nam với giá trị tượng trưng 1 USD. Bài toán đặt ra không chỉ là khôi phục sản lượng mà còn phải tìm ra phương án phát triển phù hợp với điều kiện địa chất, tận dụng hiệu quả hạ tầng và kiểm soát chi phí khai thác.

Sau khi Petrovietnam tiếp nhận trực tiếp hoạt động dầu khí tại mỏ năm 2003, đội ngũ nghiên cứu của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) và PVEP-NCS đã xây dựng hệ thống giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế, thay vì tiếp tục sử dụng những mô hình khai thác có chi phí cao.

Một trong những thay đổi quan trọng là chuyển sang phát triển các giàn đầu giếng cố định, kết nối với hệ thống xử lý hiện hữu. Phương án này giúp tận dụng hạ tầng đã đầu tư, giảm chi phí xây dựng và nâng cao hiệu quả khai thác.

Đáng chú ý, việc tự chủ trong thiết kế, chế tạo công trình biển đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Thông qua tối ưu thiết kế ba giàn đầu giếng, nhóm nghiên cứu giúp tiết kiệm khoảng 30 triệu USD so với phương án tham chiếu. Đối với hệ thống kết nối ngầm, giải pháp sử dụng đường ống cứng thay cho đường ống mềm truyền thống tiếp tục giúp tiết kiệm khoảng 25 triệu USD chi phí đầu tư.

Không chỉ giảm chi phí xây dựng, các giải pháp công nghệ còn thay đổi cách thức bảo dưỡng, duy trì hoạt động khai thác. Điển hình là công nghệ sửa chữa nổi Wet Dock, cho phép thực hiện công tác sửa chữa, bảo dưỡng ngay tại khu vực mỏ thay vì phải kéo giàn về ụ nổi trên bờ. Giải pháp này giúp tiết kiệm trực tiếp khoảng 50 triệu USD, đồng thời hạn chế tổn thất doanh thu do gián đoạn khai thác.

Cùng với việc làm chủ công nghệ, đội ngũ nhân sự Việt Nam từng bước đảm nhiệm toàn bộ hoạt động phát triển mỏ. Chi phí quản lý được ghi nhận giảm khoảng 50% so với mô hình có sự tham gia của nhà điều hành nước ngoài. Riêng tại dự án Đại Hùng Pha 3, chi phí quản lý tiết kiệm khoảng 10 triệu USD so với các dự án có quy mô tương đương.

Những giải pháp đồng bộ đã tạo chuyển biến rõ nét về hiệu quả kinh tế. Giai đoạn 2003-2025, tổng doanh thu dầu khí của dự án đạt hơn 4,526 tỷ USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 653 triệu USD và lợi nhuận sau thuế gần 924 triệu USD.

Từ một dự án từng đứng trước nguy cơ phải dừng khai thác, Đại Hùng đã được khôi phục và tiếp tục phát triển trên cơ sở các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế. Đây cũng là minh chứng cho khả năng tự chủ của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong thiết kế, xây dựng và vận hành các công trình dầu khí ngoài khơi, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Hệ thống công trình khai thác dầu khí tại mỏ Đại Hùng. (Ảnh: MST)
Hệ thống công trình khai thác dầu khí tại mỏ Đại Hùng. (Ảnh: MST)

Công nghệ mới nâng hiệu quả từng giếng khoan

Bên cạnh việc tối ưu thiết kế và vận hành công trình biển, một thành công quan trọng của cụm công trình là ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ để nâng cao độ chính xác trong thăm dò, xác định vị trí và khai thác các tầng chứa dầu.

Đại Hùng có cấu trúc địa chất phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều hệ thống đứt gãy. Đặc điểm các tầng chứa dầu không đồng nhất khiến việc xác định chính xác vị trí có tiềm năng khai thác gặp nhiều khó khăn. Nếu lựa chọn vị trí khoan không phù hợp, doanh nghiệp có thể bỏ sót các tầng sản phẩm hoặc phải đối mặt với chi phí đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp.

Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu PVEP và PVEP-NCS đã tích hợp, chuẩn hóa dữ liệu từ các giếng khoan với tài liệu địa chấn, ứng dụng phương pháp phân tích và mô hình hóa hiện đại nhằm nhận diện rõ hơn đặc điểm các tầng chứa dầu. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và thuật toán học máy giúp dự báo những đặc tính địa chất tại khu vực còn thiếu dữ liệu, bổ sung cơ sở khoa học cho việc lựa chọn mục tiêu khoan.

Các kết quả nghiên cứu còn được kết hợp với công nghệ đo địa vật lý ngay trong quá trình khoan. Nhờ đó, kỹ sư có thể nhận diện đặc điểm các lớp địa tầng, phát hiện những tầng có triển vọng chứa dầu và điều chỉnh hoạt động khoan kịp thời. Cách tiếp cận này giúp giảm bất định trong thi công, hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng tiếp cận các tầng sản phẩm.

Hiệu quả của các giải pháp được thể hiện rõ qua kết quả gọi dòng tại ba giếng thuộc dự án phát triển mỏ Đại Hùng Pha 3. Cả ba giếng đều ghi nhận lưu lượng dầu thực tế vượt mức dự kiến trong phương án phát triển mỏ.

Trong đó, giếng DH-27P đạt lưu lượng 1.485 thùng/ngày, gần gấp 4 lần kế hoạch. Giếng DH-26P đạt 2.689 thùng/ngày, cao gần 3 lần mức dự kiến. Giếng DH-25P đạt 3.289 thùng/ngày, vượt khoảng 43% so với kế hoạch.

Những kết quả này cho thấy hiệu quả của việc kết hợp dữ liệu địa chất, công nghệ dự báo và các phương pháp đo đạc hiện đại trong quá trình thăm dò, khai thác. Đặc biệt, khả năng nhận diện tốt hơn các tầng chứa dầu giúp doanh nghiệp có thêm cơ sở lựa chọn vị trí khoan, nâng cao hiệu quả đầu tư tại những khu vực có cấu trúc địa chất phức tạp.

Từ thực tiễn tại Đại Hùng, cụm công trình đã chứng minh vai trò của khoa học và công nghệ trong giải quyết những bài toán khó của ngành dầu khí: từ giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả vận hành đến khai thác tốt hơn tiềm năng tài nguyên.

Hành trình hồi sinh mỏ Đại Hùng vì thế không chỉ là câu chuyện về một dự án dầu khí được cứu khỏi nguy cơ đóng cửa, mà còn là minh chứng cho sự trưởng thành của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ công nghệ. Khi tri thức khoa học được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế cụ thể, đó cũng là nền tảng quan trọng để ngành dầu khí nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động khai thác tài nguyên và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Uyên Na