Kỳ tích lịch sử trên mặt trận ngoại giao

Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng có điều kiện suy ngẫm, đánh giá chính xác, khách quan về những sự kiện, những nhân vật trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vĩ đại kéo dài suốt 30 năm (1945-1975) của dân tộc Việt Nam. Hội nghị Pa-ri là một sự kiện như vậy. Kết quả của nó- Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Pa-ri), tạo ra tiền đề quyết định cho cuộc tổng tiến công mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Gắn với chiến trường không tiếng súng này là những tên tuổi lỗi lạc của cách mạng Việt Nam-  Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Cơ Thạch..., cùng cả huyền thoại về một giải Nobel hòa bình bị từ chối.

Chiến trường không tiếng súng

Nắm bắt được tính chất phức tạp trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước một siêu cường như đế quốc Mỹ cũng như bối cảnh quốc tế lúc đó, Đảng ta sớm nhận thức được tầm quan trọng của đấu tranh ngoại giao, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý quốc tế buộc Mỹ chấm dứt sự can thiệp vào Việt Nam. Vào năm 1967, trước bế tắc trên chiến trường do những thất bại trong ném bom miền Bắc và hàng loạt chiến dịch quân sự lớn ở miền Nam, sức ép từ phong trào phản chiến gia tăng trong nước, Oa-sinh-tơn cũng bắt đầu muốn tìm kiếm “lối thoát danh dự” để có thể rút khỏi cuộc chiến một cách không quá mất mặt.

Tháng 1-1967, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định nâng hoạt động ngoại giao thành một mặt trận để phối hợp với các mặt trận quân sự và chính trị. Trả lời phỏng vấn nhà báo Ô-xtrây-li-a W.Bớc-sét cùng tháng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: "Nếu Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) có thể nói chuyện với Mỹ".

Tuy nhiên, giới lãnh đạo Mỹ vẫn quá ảo tưởng vào sức mạnh của mình và trước bản chất ngoan cố đó, để làm họ sáng mắt, không gì tốt hơn là một đòn quyết định trên chiến trường. Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 là “cú sốc” như vậy đối với Oa-sinh-tơn và một trong những hệ quả của nó là ngày 31-3-1968, Tổng thống L.Giôn-xơn chính thức đề nghị thương lượng với VNDCCH. Sau nhiều hoạt động thăm dò, dàn xếp, ta đồng ý ngồi nói chuyện với Mỹ ở Pa-ri từ ngày 13-5-1968. Phái đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu, đồng chí Lê Đức Thọ làm Cố vấn đặc biệt.

Đây là mặt trận không tiếng súng, nhưng không kém phần gian nan và là những cuộc đấu trí, đấu ý chí quyết liệt. Mặc dù ủng hộ sự nghiệp của nhân dân ta, song trong cộng đồng XHCN khi đó cũng có ý kiến khác nhau về việc đàm phán giữa ta và Mỹ. Chúng ta đã có những kinh nghiệm xương máu từ Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ 1954. Do sức ép từ các nước lớn, Hiệp định Giơ-ne-vơ không chỉ chưa thể hiện đúng những thắng lợi to lớn chúng ta giành được trên chiến trường và tương quan đôi bên, mà còn bị đế quốc thực dân vi phạm trắng trợn ngay khi chưa ráo mực. Do vậy, ta kiên định lập trường rằng Hội nghị Pa-ri là cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ- những bên trực tiếp liên quan đến cuộc chiến. Điểm khác nữa là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP) phải là một bên tham gia hội đàm. Khi Mỹ phải chấp nhận đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng (từ 6-1969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam- CPCMLT), hội nghị bốn bên giữa VNDCCH, MTDTGP, Mỹ và chế độ Sài Gòn được bắt đầu tư ngày 25-1-1969.

Những cuộc thương lượng kéo dài là sự đấu tranh hết sức gay go phức tạp, do phía Mỹ luôn luôn theo đuổi chính sách "đàm phán trên thế mạnh", đòi ta phải chấp nhận những điều kiện do Mỹ đặt ra. Đơn cử một chuyện tưởng chừng “nhỏ như con kiến” là hình dạng chiếc bàn họp. Để khẳng định đây là hội nghị 4 bên và CPCMLT là một bên tham gia đàm phán đầy đủ, ta yêu cầu 4 bên ngồi riêng rẽ, trong khi Mỹ muốn ngồi thành 2 bên. Sau nhiều tranh luận, hội nghị đồng ý sử dụng chiếc bàn hình tròn. Thực ra, ẩn ý trong việc này lớn hơn nhiều, liên quan đến tương quan lực lượng tại miền Nam Việt Nam và cuối cùng Mỹ-ngụy phải thừa nhận CPCMLT là thực thể nhà nước có đất, có dân chứ không phải “bóng ma Việt Cộng” như chúng thường rêu rao. Từ năm 1969, sau khi lên cầm quyền, Tổng thống diều hâu R.Ních-xơn thi hành chiến lược chiến tranh "Việt Nam hóa", mở rộng và đẩy mạnh cuộc chiến lên tới mức ác liệt nhất, hòng cứu vãn tình thế nguy ngập của Mỹ và tay sai. Nhưng Mỹ vẫn thất bại và chế độ Sài Gòn ngày càng suy sụp nghiêm trọng.Cũng từ tháng 8-1969, H.Kít-xinh-giơ- một tên tuổi khét tiếng trong chính trường Mỹ, bắt đầu tham dự Hội nghị Pa-ri với tư cách Cố vấn an ninh quốc gia Tổng thống Mỹ. Những tiến trình đàm phán chủ yếu nhất được thực hiện qua các cuộc gặp riêng, cả công khai lẫn bí mật, giữa các đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy với Kít-xinh-giơ tại Pa-ri. Mặc dù nhận ra rằng sẽ phải đạt được thỏa thuận để rút quân Mỹ, song cũng như các đời lãnh đạo Mỹ trước đó, cặp Ních-xơn/Kít-xinh-giơ vẫn có chỗ bám víu- ảo tưởng ở chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và diễn biến quốc tế nào đó sẽ giúp Mỹ có được lợi thế mà họ không thể đạt được trên chiến trường. 

1972- thời điểm quyết định

Trong quá trình đàm phán, ngay từ đầu chúng ta luôn kiên định các nguyên tắc: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, mọi sự dính líu về quân sự ở Việt Nam, mọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam, tôn trọng quyền tự quyết và quyền độc lập thực sự của Việt Nam; Phải thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 lực lượng vũ trang, 3 lực lượng chính trị, cần lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần. Trên thực tế, Hiệp định Pa-ri thể hiện đầy đủ các nguyên tắc đó. Để có được thành công đó, đồng bào, chiến sĩ ta ở cả hai miền không quản ngại gian khổ, hy sinh, làm nên những chiến thắng vang dội, tạo thế mạnh vững chắc cho mặt trận ngoại giao. Trong đó, thời điểm quyết định là năm 1972.

Kỳ tích lịch sử trên mặt trận ngoại giao
Một cuộc gặp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và ông Kít-xinh-giơ

Mở đầu 1972 - “năm đỏ lửa” , ngay ngày 25-1, Tổng thống R.Ních-xơn phá vỡ thỏa thuận do chính phía Mỹ đề nghị, công bố nội dung các cuộc gặp riêng giữa hai bên, theo hướng xuyên tạc đổ trách nhiệm cho những người cách mạng Việt Nam, khiến dư luận thế giới xôn xao. Ngày 17-2, Ních-xơn thăm Trung Quốc và hai bên ra bản Thông cáo chung Thượng Hải.  Ngày 23-2, Mỹ đơn phương tuyên bố ngừng họp Hội nghị Pa-ri vô thời hạn.

“Vỏ quít dày có móng tay nhọn”, bên cạnh các hoạt động ngoại giao cần thiết, ngày 30-3, ta mở cuộc tổng tiến công Xuân-Hè đồng thời tại 3 chiến trường chính: Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Mặc dù Mỹ-ngụy chống trả bằng mọi cách- đưa quân Mỹ tham chiến trở lại, sử dụng hỏa lực ở mức cao nhất, ném bom và thả thủy lôi phong tỏa miền Bắc- quân ta thu được những chiến thắng vang dội, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Thất bại về chiến lược trong khi bầu cử Tổng thống đang tới gần khiến Mỹ xuống thang và ngày 13-7 chấp nhận.họp lại hội nghị Pa-ri. Đàm phán tiến triển. Tại cuộc gặp riêng giữa các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy với Kít-xinh-giơ kéo dài từ sáng ngày 11 đến 2 giờ sáng ngày 12-10, hai bên thống nhất văn bản hiệp định, trên cơ sở dự thảo do ta đưa ra. Ngày 20-10, trong công hàm gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ních-xơn khẳng định “Văn bản hiệp định xem như đã hoàn thành” và sẽ  ký hiệp định vào 30-10. Tuy nhiên, với bản chất lật lọng, phía Mỹ trì hoãn cam kết. Ngày 7-11, Ních-xơn tái cử Tổng thống Mỹ và ngay lập tức, đòi sửa lại hầu hết các điều khoản trong dự thảo hiệp định. Hỗ trợ cho yêu sách đó, từ 18-12-1972, Ních-xơn ra lệnh mở chiến dịch mang mật danh “Lineblacker 2”, huy động “ngáo ộp”- máy bay chiến lược B52- ném bom ồ ạt Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc. Với ý chí kiên cường và lòng dũng cảm phi thường, quân và dân miền Bắc đập tan cuộc tập kích không quân này, dù phải chịu những hy sinh to lớn. Thất bại trong canh bạc cháy túi này, bị dư luận thế giới lên án mạnh mẽ, ngày 30-12-1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, đề nghị nối lại đàm phán ở Pa-ri và thông báo quan điểm "cần đạt được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện khắt khe" và chấp thuận tất cả những gì đã chối từ, kể cả một kết quả đàm phán ngoài mong muốn. Với thái độ biết điều đó, từ đây, các bên nhanh chóng hoàn thành văn bản hiệp định. Ngày 23-1, các ông Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ tiến hành ký tắt hiệp định. Thế là "Chính nghĩa đã thắng phi nghĩa! Ý chí bất khuất đã thắng bạo tàn! Việc đạt một Hiệp định như vậy là một thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam" - đồng chí Lê Đức Thọ tuyên bố tại cuộc họp báo lớn vào chiều ngày 24-1-1973 tại Pa-ri.

Đúng 11 giờ (giờ Pa-ri) ngày 27-1-1973, sau 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng giành thắng lợi rực rỡ. Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được các bộ trưởng ngoại giao của các bên ký chính thức trong khung cảnh tranh nghiêm tại phòng họp lớn của Trung tâm các hội nghị quốc tế Clê-be. Bên ngoài, dọc đại lộ Clê-be, hàng chục nghìn Việt kiều và nhân dân Pháp nồng nhiệt vỗ tay, vẫy cờ đỏ sao vàng và cờ CPCMLT, hô khẩu hiệu chào mừng các đại biểu Việt Nam chiến thắng.

Tạo thời cơ cho thắng lợi cuối cùng

Mùa hè 1973, trong một chuyến đi hội đàm đến Hà Nội, ông Kít-xinh-giơ thăm Bảo tàng lịch sử Việt Nam. Khi nghe dịch nghĩa các câu thơ chữ Hán của bài thơ "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt trên tường nhà bảo tàng, ông ta nhận xét: "Đây là điều 1 khoản 1 của Hiệp định Pa-ri!".

Cuối năm 1973, Ủy ban Nobel tuyên bố trao giải Nobel hòa bình cho các ông Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ từ chối nhận giải và đây là trường hợp từ chối thứ hai trong lịch sử giải Nobel (người kia là nhà triết học, nhà văn Pháp J.P.Xác-tơ-rơ). 

Đây là thất bại cay đắng hiếm hoi trong sự nghiệp khá lẫy lừng của ông Kít-xinh-giơ và cả ngành ngoại giao Mỹ. Biết vậy, nhưng giới lãnh đạo Mỹ không thể làm khác. Từ chủ trương thương lượng trên thế mạnh, Mỹ phải đến bàn đàm phán trong thế yếu và phải chấp nhận kết quả phù hợp với tương quan so sánh tình thế đôi bên. Cái tài giỏi của các nhà đàm phán Việt Nam là bằng sự mềm mỏng nhưng kiên quyết, đã buộc đối thủ chấp nhận thực tế đó, chuyển thành công thắng lợi quân sự thành thắng lợi ngoại giao và ngược lại.

Diễn biến sau đó càng khẳng định tầm nhìn xa, trông rộng của ban lãnh đạo Đảng ta.

Theo Hiệp định Pa-ri, Mỹ phải rút hết lực lượng viễn chinh về nước. Nội bộ Mỹ lục đục nghiêm trọng, trong khi người Mỹ đều coi cuộc chiến Việt Nam “đã khép lại”. Nhưng họ chưa chịu từ bỏ những âm mưu duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới đối với miền Nam nước ta. Ngay từ khi Hiệp định vừa được ký kết, Mỹ và chế độ Sài Gòn liên tiếp vi phạm, phá hoại trắng trợn các điều khoản chủ yếu. Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho ngụy quyền, duy trì tại miền Nam hàng vạn cố vấn và nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự, trong khi chế độ Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc tiến công nhằm chiếm đất, cướp dân nhằm duy trì sự tồn tại thoi thóp.

Không có cách nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Để bảo vệ và thi hành Hiệp định Pa-ri, quân và dân ta đã trừng trị đích đáng mọi hành động phá hoại đầy tội ác của chúng, không những ở các nơi chúng lấn chiếm mà còn ở tất cả các căn cứ xuất phát của chúng.

Nắm vừng thời cơ, dựa trên một nhận định vô cùng sáng suốt- một khi đã phải rút đi, Mỹ không thể đưa quân trở lại Việt Nam- mùa Xuân 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy long trời lở đất của quân, dân ta đã đập tan mọi hành động phá hoại của Mỹ - ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, hoàn thành mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào; Bắc Nam xum họp, xuân nào vui hơn”, mở ra trang mới trong lịch sử đất nước.

Chiến công ngoại giao này mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Minh Vũ