Ký sự HIV/AIDS

Nguyễn Vũ

Ngạn ngữ có câu: "Trên đời có ba thứ mất đi không lấy lại được: Mũi tên bắn đi, thời gian đã qua và niềm tin đã mất". Niềm tin chiếm vị trí quan trọng đặc biệt trong đời sống con người. Trong khi Nhà nước, ngành, đoàn thể và rất nhiều tổ chức phi chính phủ, cá nhân... nỗ lực giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV, thì vẫn còn sự kỳ thị, tự kỳ thị và phân biệt đối xử trong cộng đồng, trở thành thành trì chính ngăn cản sự tiếp cận điều trị và chăm sóc người nhiễm, khiến họ mất niềm tin. Bản thân người viết, khi trực tiếp chứng kiến, cũng nhận được một thông điệp đầy tự ti và da diết: "Xin đừng nêu tên thật".

Kỳ 1: Sống chung với thần Chết

Mang "án tử"

 

Anh Hoàng Nam, cán bộ trinh sát ở Đồn Biên phòng 38, phụ trách Đội phòng, chống ma tuý kể, trước năm 2000, Hải Phòng hầu như không có án ma tuý. Phú, từng tham gia dự án phòng nhiễm HIV khẳng định: 73% trường hợp xét nghiệm là người tiêm chích ma tuý, trong đó, khoảng 64% nhiễm HIV. Còn theo Đội trưởng Đội tình nguyện viên phòng chống HIV Nguyễn Văn Bé, riêng phường Ngọc Hải có khoảng 50 người nhiễm HIV. Theo số liệu của Đội phòng, chống ma tuý Đồn Biên phòng 38, tính đến tháng 9-2006, có 129 người nghiện, tập trung nhiều ở Ngọc Hải. Nhưng, ngay cả số liệu của Sở Y tế cũng chỉ là những con số tương đối, bởi  tâm lý chung của người nhiễm và gia đình là giấu kín, nếu có thể.

Những người sống lâu năm tại Đồ Sơn khẳng định: Ma tuý bắt đầu xuất hiện ở Đồ Sơn từ khi những người vượt biên trái phép sang Hồng Kông, rồi hồi hương mang theo "chất trắng". Xã Bàng La - nơi có nhiều người theo nghề biển nhất và lượng người vượt biên trái phép cũng đông nhất, thành điểm nóng về ma tuý. Từ Bàng La, tệ nghiện hút lan rộng ra cả thị xã. Đến năm 2005, khi các lực lượng chức năng tập trung truy quét, Bàng La bớt dần, nhưng từ năm 2006, người nghiện lại dạt nhiều sang Ngọc Hải, Ngọc Xuyên, Vạn Hương. Anh Hoàng Nam thừa nhận tình trạng lao động cả tàu nghiện hút. Lênh đênh trên biển bao ngày, chỉ toàn nước và cá. Vài con nghiện rủ nhau "chích tý" cho đỡ nhớ nhà; người nọ rủ người kia... Giữa đất trời biển cả, lấy đâu ra điều kiện vệ sinh như trên đất liền. Mấy chục người dùng chung một bơm kim tiêm. Và, cái gì phải đến, tất đến!

Cẩn (tổ 3 phường Vạn Hương) cũng "dính H" trong hoàn cảnh đó. Năm 1995, như nhiều thanh niên Đồ Sơn từng sử dụng ma tuý, Cẩn được đi xét nghiệm HIV. Nhưng Cẩn không được cầm kết quả trong tay và đinh ninh mình khoẻ mạnh. Vốn lao động thuần phác, năm 1997, Cẩn chủ động cai nghiện, lấy vợ. Giữa chuyến đi biển dài ngày, đôi khi, Cẩn cũng đốt cảm giác nhớ nhà bằng một liều ma tuý. Năm 2000, trong một lần đi biển, anh bị cảm lạnh, rồi sốt. Những cơn sốt kéo dài triền miên không dứt, rồi chuyển sang ho khan, sụt cân liên tục. Từ một thanh niên vạn chài sáu chục cân có dư, anh sụt hơn hai chục cân. Sức trai làng biển cũng không thể trụ lâu với cơn sốt khó hiểu. Anh quyết tâm chữa tận nọc! Hăm hở bao nhiêu, Cẩn bàng hoàng bấy nhiêu, khi nhận kết quả xét nghiệm! Những ngày đêm quằn quại đầy bi đát, tự dằn vặt, rồi hối hận, lo lắng, hoảng loạn... Và anh hiểu, phải sống cho chính mình, cho người thân của mình. Anh bỏ lên bờ, chạy xe ôm du lịch và trở thành tình nguyện viên tuyên truyền về HIV/AIDS. "Ban đầu ngại lắm, thậm chí đôi lúc còn thấy nhục". Cẩn còn nhớ như in lần đầu vừa bước chân vào nhà thằng bạn nghiện, dè dặt mở mồm định trình bày đã bị người nhà mắng: Mày cũng là thằng nghiện, tuyên truyền cái gì! Đau, nhưng Cẩn vẫn quyết tâm! Từng là "thằng nghiện", Cẩn hiểu tâm tư người nghiện nhiễm HIV, hiểu họ cũng có niềm vui và nỗi khiếp đảm cái chết. "Người đồng cảnh thuyết phục nhau dễ hơn mấy cô trên trạm xá"- Cẩn nói.

Không phải ai nhiễm HIV cũng có ý thức vì cộng đồng như Cẩn. Đám tang ngày 23-10-2006 của Hoàng Gia Thuấn, 34 tuổi, cùng ở phường Vạn Hương là vậy. Trên mình lở loét cả, nhưng Thuấn vẫn quyết tâm cưới vợ bằng được. Cô dâu không hề biết điều đó. Nhà Thuấn đành "chiều ý" con nhưng không thể cất lời nói ra sự thật. Họ không chủ ý nhẫn tâm, nhưng sợ dư luận! Con Thuấn 9 tháng tuổi, chưa kịp nhận thức về bố, thì Thuấn ra đi vĩnh viễn, để lại nỗi cay đắng trong lòng người vợ trẻ và chê bai xót xa của hàng xóm về tương lai đoán chắc của hai mẹ con. Ngày 6-3-2005, Nguyễn Văn Viên (tổ 6 Vạn Hương) cũng lặng lẽ mất sau một lần thử ma tuý duy nhất  trên tàu. 100 ngày sau, người vợ ra đi theo chồng, để lại hai đứa con sống cùng người cô dở hơi. 51 ngày sau khi Lưu Văn Long (khu dân cư 1 xóm Sản xuất, phường Ngọc Hải) chết vì dùng ma tuý trong những chuyến đi biển, vợ anh sinh đôi hai đứa con trai ốm quặt quẹo đến ngày nay. Phấp phỏng từng ngày đếm tuổi hai cháu đến tháng thứ 14, lại phải chạy xin thuốc ARV, nhưng mẹ Long vẫn cố giấu kín chuyện vợ chồng thằng con trai út cũng đã nhiễm HIV...

 

Bản án không của riêng người nhiễm

 

Số lần ra đi của người nhiễm HIV/AIDS ở Đồ Sơn ngày càng nhiều lên. Danh sách người chết trẻ, thiêu tại Đài hoá thân Ninh Hải mỗi ngày đông lên, lái người dân đến sự đồn đại và phỏng đoán theo nghĩa khác. Thay vì hành động giúp đỡ vì bản thân người nhiễm và vì cộng đồng, nhiều người khoẻ mạnh khoanh tay đứng nhìn, thậm chí né tránh và gạt người nhiễm ra lề cuộc sống. S., một tình nguyện viên ở Vạn Hương, khẳng định, một thời, khu vực gầm cầu Quay là nơi tạm trú của những người nhiễm HIV bị gia đình "hất" ra đường, trong đó, có nhiều người Đồ Sơn. Người phải qua cầu buổi tối thường gắng đi thật nhanh, tránh va chạm với đám vạ vật đó. Nhưng nạn "xin đểu" thường xảy ra, trộm cắp, cướp giật gia tăng. Người nhiễm HIV không được chăm sóc chết nhanh hơn. Không còn gì để mất, họ cũng không biết sợ! Phải đến khi có chương trình hỗ trợ chăm sóc người nhiễm HIV, cảnh tượng mới chấm dứt, khu phố bình yên trở lại. Người dân quanh đây "ngộ" ra một điều: quan tâm chăm sóc người nghiện nhiễm HIV không chỉ là việc của riêng gia đình đó.

Hải Phòng là một trong những "địa chỉ nóng" về lượng người nghiện nhiễm HIV, nhưng cũng là địa phương tích cực triển khai các dự án phòng chống lây nhiễm HIV, với sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương cùng nhiều tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ. Nhưng thực tế, ngoài những người tham gia dự án, chương trình và đối tượng hoạt động phong trào, ý thức cộng đồng chưa thông suốt. Vẫn còn đâu đây thái độ e ngại, sợ sệt khi tiếp xúc với người nhiễm. Mà người nhiễm có sự nhạy cảm kỳ lạ, nhận biết được sự xa cách, chỉ từ một ánh mắt!

Chính tâm lý kỳ thị của cộng đồng khiến đa phần người nhiễm HIV phải giấu gia đình, bạn bè. Họ không muốn bị ghẻ lạnh. Họ muốn được sống như mọi người, được chữa bệnh như người mắc bệnh thông thường nào khác. Khi người nhiễm HIV không có được điều đó, cả xã hội bị đe doạ. Chúng ta thường suy nghĩ theo thói quen: hễ nghiện, nhiễm HIV là đi liền với trộm cắp, cướp giật, côn đồ... Thực tế, những hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí gây nguy cơ lây lan HIV chỉ là hệ quả xã hội nhận được sau thái độ ghẻ lạnh và thờ ơ với người nghiện. Hiếu kỳ, tò mò, tìm hiểu, khám phá là đặc tính thuộc về bản năng người. Những người kiềm chế không "thử" ma tuý, là chiến thắng được "bản năng người". Nhưng có người không làm được điều đó. Trót "nhúng chàm", họ lập tức bị gạt ra lề cuộc sống. Vào trung tâm cai nghiện, trong ánh mắt nhiều người, cũng có nghĩa là khu biệt một nhóm người. Ở nhà, họ là người "vô tích sự", người dân lo lắng tìm cách bảo vệ tài sản, đề phòng bị "chôm", người thân "bỏ thì thương, vương thì tội". Người nghiện nhiễm HIV lặng lẽ sống trong sự tự kỷ của bản thân và xung quanh. Họ dễ bùng phát, không kiểm soát nổi hành vi. Người xét nghiệm thì sợ bị tiết lộ thông tin về tình trạng nhiễm HIV; người có nguy cơ nhiễm thì không dám đi xét nghiệm; nhiễm rồi thì không dám áp dụng biện pháp ngừa lây nhiễm cho người khác vì sợ bị phát hiện …

Người ta thường nói người nhiễm HIV là "mang án tử hình", nhưng thực tế, khi xã hội không có ứng xử phù hợp với họ, thì cả xã hội cũng đang "sống chung với thần Chết". Trong Bộ luật Hình sự quy định hình phạt dành cho người lây truyền và cố ý truyền HIV cho người khác. Tuy nhiên, với người đã mang "bản án của thần Chết", sự sống chỉ là vấn đề thời gian, thì thái độ tích cực của cả cộng đồng không chỉ là cái nhìn nhân đạo giữa con người với con người, mà còn là ứng xử thực tế nhất và phù hợp nhất để duy trì một cộng đồng lành mạnh, an toàn./.   

(Còn tiếp)