Ký sự HIV/AIDS

Nguyễn Vũ

 

Kỳ 2: Những ngả rẽ

 

Cô sinh ra ở miền quê, trong một gia đình làm ruộng. Sức học yếu, cô thi trượt trung học phổ thông. Một người bà con về chơi, gợi ý ra thành phố làm thuê kiếm tiền đỡ đần bố mẹ. Cô bước chân ra thành phố khi tròn 16 tuổi.

Chủ thuê cô là đôi vợ chồng trung niên. Cô không biết họ làm gì, chỉ thấy đi tối ngày, phó mặc hai đứa trẻ cho cô trông nom, rồi nấu ăn, giặt giũ... Thi thoảng, qua câu chuyện bập bõm của họ, cô phỏng đoán họ làm ở quán karaoke hay nhà hàng gì đó. 2 năm trôi qua, khi cô dần quen với cuộc sống mới thì được bà chủ gọi vào buồng, bảo từ mai ra ngoài quán bán hàng. Bà chủ bảo, ra đó, cô sẽ được trả lương cao hơn, có tiền mua nhiều quần áo đẹp, lại rủng rẻng tiền gửi về cho bố mẹ.

Hôm đầu tiên ra nhà hàng, cô ngạc nhiên thấy nhân viên phục vụ toàn nữ, tầm tuổi như cô. Họ khen cô xinh, và bảo sẽ dạy cô cách để "móc tiền mấy thằng cha". Ban đầu, cô cũng chưa hiểu, chỉ nghĩ cần gắng bưng bê chăm chỉ để có tiền gửi về giúp bố mẹ. Cô đã phản ứng dữ dội khi bà chủ bắt phải ngồi với khách. Nhưng thân cô thế cô, một mình không thể chống lại được, nhất là khi bà chủ đòi ráo riết khoản tiền cô từng xin tạm ứng để gửi về chữa bệnh cho bố dạo trước... Ban đầu ngồi uống bia với khách, rồi tiến tới là những cuộc mây mưa mà cô có thể "vặt" được kha khá tiền bằng mánh lới học được từ những chị em khác. Họ cũng dạy cô cách phòng chống bệnh tật. Cô thành một ả đào xinh tươi được nhiều người để ý. Cuộc sống của cô cứ vậy, ngày ngày ngập trong bia, rượu, phòng nghỉ... tới năm 20 tuổi, khi trái tim cô biết rung động. Đó là một khách hàng thường xuyên lui tới quán. Anh thú nhận mình đã có gia đình, và thật thà nói không thể từ bỏ vợ con để lấy cô. Nhưng cô đã trót đắm chìm trong bể tình của anh rồi. Chẳng có gì khiến cô tỉnh táo, với cô, yêu là hy sinh và dâng hiến. Đến một ngày, đột nhiên anh biến mất. Không điện thoại, không lời nhắn. Cô như phát cuồng. Hỏi mấy người bạn thường đi với anh, họ lắc đầu nguầy nguậy. Giữa lúc thất vọng tràn trề, cô lại rơi vào hoảng loạn, choáng váng: cô bạn cùng làm cho biết, anh bị nhiễm HIV! Cô cuống cuồng đi xét nghiệm, nôn nao chờ kết quả và đờ đẫn người: Cô nhiễm HIV! Xưa nay, cô chỉ nghĩ chuyện đề phòng với khách, chứ với anh- tình yêu của cô... Cô bị bà chủ xua đuổi, bị tất cả xa lánh... Rồi cô gượng dậy với quyết tâm da diết được về quê, nơi có người thân sẵn sàng giang rộng vòng tay ôm lấy cái thân xác tiều tuỵ vì AIDS của cô...

Đây là câu chuyện có thật của một cô gái "bán hoa" ở Đồ Sơn mà người viết được nghe tâm sự trong lần gặp gỡ tại Hà Nội. Hiện nay, cô đã trở về miền quê yên tĩnh của mình ở Hoà Bình. Còn một khúc khác trong cuộc đời mà cô không muốn nhìn lại, đó là giai đoạn mới biết mình bị nhiễm HIV. Cô cảm thấy cuộc sống bế tắc, tâm trạng rối bời, cô độc, tủi thân khi bị mọi người ác cảm, xa lánh, kỳ thị. Đó cũng là giai đoạn cô lang bạt qua nhiều miền đất, sẵn sàng ban phát cho những gã đàn ông "hảo ngọt" với giá rẻ như một cách "trả thù đời". Không biết còn bao nhiêu "nạn nhân" kế tiếp, nếu như cô chưa gặp được nhóm giáo dục đồng đẳng- những người cùng cảnh ngộ...

Theo phân tích của chị M. - một tuyên truyền viên phòng chống HIV/AIDS ở phường Vạn Hương, có nhà hàng ở trung tâm thị xã, việc tiếp cận tuyên truyền phòng chống HIV cho tiếp viên khó,  nguyên nhân có cả về phía chủ nhà hàng, khách hàng và tiếp viên. Chị khẳng định, số tiếp viên nhà hàng thất học chiếm khoảng 40%. Tuyên truyền và hỏi han nhiều cô gái, chị nhận ra là các tiếp viên chỉ hiểu đơn giản "nếu không dùng bao cao su (BCS) sẽ bị bệnh", còn cụ thể ra sao họ không biết nữa. Chị cho rằng, thực ra, tiếp viên nhà hàng hoàn toàn có thể học thêm, mở mang hiểu biết, nhưng tâm lý nhiều chủ nhà hàng lại không muốn điều đó. Có chút gì đó như e ngại, nếu tiếp viên hiểu biết quá, họ sẽ sợ và phản ứng gay gắt khi khách không chịu dùng BCS. Mà khi tiếp viên "bướng", khách sẽ bỏ đi nơi khác! Chị tiết lộ, có những tiếp viên  tiếp tới 15-16 khách/ngày. Giả dụ chỉ cần 2 khách không dùng BCS và mắc bệnh, nguy cơ lây lan đã rất lớn. Hoặc ngược lại, nếu tiếp viên mắc bệnh, liệu vợ con của những khách đã quan hệ với tiếp viên đó sẽ ra sao? Chị kể, có lần chị phải đứng ra can thiệp cho một tiếp viên gặp phải ông khách dáng dấp đạo mạo, phong độ, có vẻ không xa lạ với kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, nhưng "ngoan cố" không chịu dùng BCS. Chị nói: Có cậu chỉ  17, 18 tuổi, cứ nhất định rằng "mượt mà thế này, AIDS thế quái nào được"!  

Mỗi năm Việt Nam có 39.000 ca nhiễm HIV mới. Tổng số người nhiễm HIV/AIDS hiện nay ở Việt Nam là gần 300.000 người.

TP. Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất (khoảng 1,2% dân số và khoảng 1/4 số người nhiễm HIV của cả nước), tiếp đến Hải Phòng (1,1% dân số), Hà Nội (0,7% dân số).

(Báo cáo điều tra do nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS- Mỹ) thực hiện  năm 2006.   

Trong một lần đi cùng đội tình nguyện viên tuyên truyền phòng chống lây nhiễm HIV ở Đồ Sơn, chúng tôi được nghe anh Cao Văn Cường, chủ nhà nghỉ Phương Thảo thừa nhận: Tiếp cận nhà hàng ở Đồ Sơn phải thông qua người bản địa hoặc chính quyền địa phương, như cách bảo đảm thiện ý tuyên truyền, bằng không, việc tiếp xúc chỉ hình thức, không hiệu quả. Được biết, tại khu vực nhà hàng, khách sạn, nhóm trưởng và nhóm phó nhóm dự phòng lây nhiễm HIV đa phần là các chủ nhà hàng. Nhưng bản thân họ lại không có mặt thường xuyên. Do vậy, công tác tuyên truyền, thực tế, không thực hiện được thường xuyên. Bản thân tiếp viên mặc nhiên không được tự do tiếp xúc với người lạ, trừ khách đến nhà hàng. Việc khám bệnh cũng thực hiện theo định kỳ, sắp xếp cho từng nhóm, đặc biệt lắm mới đi lẻ. Công việc phục vụ khiến lịch làm việc của tiếp viên cũng khác. Họ thường ngủ dậy vào tầm 10 giờ sáng, ăn uống, tắm rửa, trang điểm, và bắt đầu khởi động từ khoảng 15 giờ chiều. Không thể nói chuyện với họ buổi sáng. Buổi chiều thì họ bận, vả lại, phận làm thuê, không thể ngồi rỗi bàn chuyện "không ra tiền" với đội tuyên truyền viên, nhất là ngồi nói chuyện trong ánh mắt xăm soi của người khác. Điều đó khiến việc tiếp cận tiếp viên khó khăn. Nếu rảnh, tiếp viên cũng không dám tiếp xúc lâu, không thể trả lời thật một số câu hỏi. Họ sợ yếu tố "gây nhiễu". Chỉ khi tách khỏi công việc, hoặc không còn làm tại Đồ Sơn, họ mới dám bộc bạch hết tâm tư.

Anh Cường khẳng định, ở Đồ Sơn, nhiều nhà hàng, khách sạn cho phép tiếp viên từ chối nếu khách không chịu dùng BCS. Khi thực hiện điều tra tại nhà nghỉ Phương Mai, chúng tôi cũng chứng kiến hình ảnh một cô gái trẻ lại gần bà chủ, khéo léo và kín đáo nhận chiếc BCS từ tay bà chủ rồi lên xe đi. Nhưng một chị chuyên làm nghề giặt giũ đồ khách sạn lại cho biết: đôi khi bắt gặp trong túi quần các cô gái hàng nắm BCS chưa sử dụng. Có tiếp viên ở khu 2 từng tuyên bố xanh rờn: Không cần BCS, ai thích gì, chiều tuốt!

Trong thuật ngữ chuyên môn, giới làm dự án phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS gọi đối tượng tiếp viên là nhóm hành vi có nguy cơ cao. Thông thường, tiếp viên nhà hàng dễ mắc bệnh phụ khoa. Dù nguy cơ lây nhiễm HIV khi không sử dụng BCS rất cao, nhưng không ai dám chắc họ có nhiễm HIV không, nếu không làm xét nghiệm. Và con đường lây truyền HIV vẫn âm thầm diễn ra ở đây. Đã đến lúc cần có cách nhìn thực tế hơn, tuyên truyền mạnh mẽ hơn, để có giải pháp cho toàn xã hội. Có thể bắt đầu từ những điều rất đơn giản, như đào tạo kiến thức tuyên truyền cho đội ngũ lễ tân, những người trực tiếp tiếp xúc với tiếp viên và khách hàng. Không thể khiến người ta hoảng sợ tìm cách "phi tang" BCS khi bị kiểm tra phòng nghỉ, chỉ vì BCS được xem như một "chứng cớ" phạm tội rành rành! Còn tồn tại lối nghĩ và cách hành động đó, công tác tuyên truyền phòng chống HIV còn gặp khó khăn, và xã hội chắc chắn kề cận một nguy cơ lây nhiễm HIV nữa./. 

(Còn tiếp)