Kỷ niệm 55 năm chiến thắng Cát Bi (7-3-1954- 7-3-2009): “Không có lòng dân, không có chiến thắng Cát Bi”

Thăm Trung tướng Đặng Kinh ở phường Đằng Lâm (quận Hải An),  chúng tôi được vị tướng già kể chuyện về trận đánh sân bay Cát Bi cách đây 55 năm.

Vị tướng năm nào khiến quân Pháp khiếp sợ bởi những chiến công lừng lẫy suốt một vùng tả ngạn sông Hồng, giờ đã ở tuổi “xưa nay hiếm”,  nhưng vẫn toát lên vẻ oai phong, lẫm liệt. Với phong cách của nhà quân sự, ông kể lại trận đánh Cát Bi năm xưa với tất cả quá trình chuẩn bị và tổ chức chiến đấu công phu như một cuốn phim quay chậm qua hồi ức của vị tướng già...

        

Ngày ấy, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ sắp mở màn, Khu ủy Tả ngạn và Bộ Tư lệnh Khu Tả ngạn, trực tiếp là đồng chí Đỗ Mười, Bí thư Khu ủy yêu cầu Tỉnh ủy, Tỉnh đội Kiến An nghiên cứu kế hoạch tập kích vào sân bay Cát Bi, một căn cứ không quân lớn nhất của địch ở Đông Dương, đồng thời là một cầu hàng không trực tiếp chi viện cho các chiến trường Bắc Bộ, trong đó có trận địa Điện Biên Phủ. Trung tướng Đặng Kinh đang là Tỉnh đội trưởng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kiến An trực tiếp báo cáo kế hoạch chuẩn bị và các phương án tác chiến vào cứ điểm quan trọng này. Với phương châm “đánh nhỏ, chắc ăn”, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu giao nhiệm vụ phá hủy 50 trong tổng số  277 chiếc máy bay tại sân bay Cát Bi. Để bảo đảm cho trận đánh thắng lợi, Tỉnh ủy Kiến An đề ra yêu cầu “Tuyệt đối giữ bí mật, việc không liên quan không nói, làm việc gì biết việc nấy, dù lọt vào tay địch cũng kiên quyết giữ bí mật đến cùng”. Kế hoạch tác chiến được triển khai. Một mặt, công tác trinh sát, nắm tình hình địch được Ban chỉ huy tỉnh đội triển khai sớm, từ tháng 7-1953. Sân bay Cát Bi nằm trong vùng địch hậu, cách nội thành Hải Phòng 7 km về phía Nam, được địch xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh, có thể chứa được 500 chiếc máy bay. Lực lượng bảo vệ sân bay gồm ba tiểu đoàn lính Bắc Phi, một tiểu đoàn lính lê dương, một tiểu đoàn công binh, một tiểu đoàn ngụy, một đại đội phòng nhì với nhiều vũ khí, đạn dược tối tân. Chung quanh sân bay, địch bố trí hàng rào dây thép gai dày đặc, xen kẽ nhiều mìn và ống bơ, đề phòng ta đột nhập. Với sự bố phòng cẩn mật, vững chắc, sân bay Cát Bi được coi là cứ điểm “bất khả xâm phạm” của địch.

 

Suốt 8 tháng ròng, các trinh sát của ta đã ra vào sân bay nhiều lần, trong đó, đồng chí thiếu tướng Mai Năng, ngày đó là Đội trưởng đội trinh sát trực tiếp vào sân bay hơn 40 lần để nắm tình hình, lên sơ đồ bố phòng khu vực sân bay. Công tác xây dựng cơ sở các xã ven sân bay được triển khai đồng thời. Huyện ủy Kiến Thụy chọn các đảng viên và quần chúng tích cực, phân công hai đồng chí huyện ủy viên trực tiếp xuống xã xây dựng cơ sở. Nhiều người dân các xã Tân Phong, Hợp Đức, Hòa Nghĩa từ chỗ cầu an, sợ địch khủng bố, đã mạnh dạn giúp đỡ bộ đội, cung cấp lương thực, thực phẩm và tin tức về địch cho bộ đội. Một số gia đình còn đào hầm trong nhà để che giấu cán bộ, bộ đội. Thời gian này, địch thường xuyên càn quét, sục sạo vào các làng, khu vực quanh sân bay, bắt dân tra hỏi và săm hầm bí mật. Hai đồng chí huyện ủy viên phụ trách công tác chuẩn bị cơ sở và hai đồng chí đội vũ trang tuyên truyền bị địch phát hiện đã giữ vững khí tiết và hy sinh anh dũng.

         

Trung tướng Đặng Kinh bồi hồi nhớ lại, lực lượng trực tiếp tập kích vào sân bay gồm 32 người, được lựa chọn kỹ từ các đơn vị và huấn luyện rất ngặt nghèo, gian khổ. Mỗi chiến sĩ phải tập chạy bộ khoảng 30 km mỗi đêm, phải tập bơi giỏi, tập cách tiếp cận địch, cách ngụy trang, cắt rào, gỡ mìn, đánh bộc phá... 7 giờ tối ngày 5-3-1954, từ bến thuyền tại bãi lau xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng), ông và Phó Bí thư huyện ủy Kiến Thụy cùng 32 chiến sĩ tham gia trận đánh xuống thuyền vượt sông Văn Úc, tiến về xã Đoàn Xá, qua xã Tân Phong để về Hòa Nghĩa (huyện Kiến Thụy). 7 giờ tối ngày 6-3, trời tối đen, gió bấc thổi hun hút, quất cái rét cắt da, cắt thịt vào người, nhưng từ xã Hòa Nghĩa, 32 chiến sĩ tập hợp xuất kích, hướng về phía sân bay Cát Bi rực sáng ánh điện. Mỗi chiến sĩ uống một ngụm nhỏ nước mắm  làm ấm người trước khi bơi vượt sông Lạch Tray. Với tinh thần dũng cảm, mưu trí, các chiến sĩ vượt qua nhiều vị trí, tháp canh, bãi lầy, sông rạch với tốc độ nhanh nhất. 1 giờ sáng ngày 7-3, tiếng nổ của lựu đạn và bộc phá vang dậy cả sân bay. Máy bay địch bốc cháy sáng rực cả một góc trời. 59 chiếc máy bay bị phá hủy cùng nhiều phương tiện, vũ khí hiện đại. Đêm hôm đó, người dân thành phố Hải Phòng và các huyện chung quanh bừng tỉnh giấc, hướng về sân bay Cát Bi rực lửa với niềm vui sướng vô hạn và niềm tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng. Trong khi đó, người dân Hòa Nghĩa bí mật đun nước, đồ xôi, nấu chè, lập thành 15 trạm trên đường bộ đội rút quân, mời những chiến sĩ quả cảm ăn lót dạ, lấy sức tiếp tục hành quân vượt sông về căn cứ. Hai thương binh được người dân Hòa Nghĩa che chở, chăm sóc chu đáo.

       

Chiến thắng Cát Bi đã cổ vũ tinh thần chiến đấu, chiến thắng của quân và dân ta trên các chiến trường. Bị tổn thất nặng nề, địch gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tế cho cứ điểm Điện Biên Phủ, góp phần để ta mở chiến dịch Điện Biển Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Biết tin về thắng lợi của trận đánh, Bác Hồ kịp thời gửi điện khen quân và dân Kiến An, tặng đơn vị danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. 30 chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, hai chiến sĩ quân báo được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, cá nhân Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng hai.

       

Nói về bài học kinh nghiệm của chiến thắng Cát Bi, Trung tướng Đặng Kinh khẳng định: “Đó là kết quả của chiến tranh nhân dân, trong đó, lòng dân là chỗ dựa vững chắc làm nên thắng lợi của trận đánh. Nếu không có tinh thần yêu nước, Cách mạng, không có tấm lòng chở che, đùm bọc của người dân các địa phương, nhất là người dân xã Hòa Nghĩa, thì không có thắng lợi trận đánh Cát Bi...”. Quả thật, bài học quý báu rút ra từ trận đánh Cát Bi chính là bài học của lòng dân. Thực tế trong công cuộc xây dựng và phát triển thành phố, đất nước hiện nay, bài học này vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn. Nhờ có lòng dân đồng thuận, thành phố ta, đất nước ta đã kết thành một khối đoàn kết chung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

 

Bích Hạnh