Xây dựng “lá chắn thép” chống bạo hành trẻ em:
Kỳ cuối: Bảo vệ trẻ là bảo vệ phẩm giá và tương lai của xã hội
Với xã hội văn minh, để trẻ bị bạo hành, bị tước đi mạng sống đó không chỉ là lỗi của một gia đình mà không ai được quyền vô can. Dưới đây là góc nhìn pháp luật và tâm lý, được cụ thể qua cuộc trao đổi giữa nhóm phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam với Luật sư Hà Trọng Đại và Tiến sỹ Tâm lý Đỗ Hoàng Phúc. Qua phân tích của 2 chuyên gia sẽ giúp ngăn chặn bạo lực bằng luật pháp và nhận diện bạo lực bằng tâm lý học. Đây là cách giúp chúng ta dùng luật pháp và sự thấu cảm để hình thành lá chắn hoàn hảo.
BẢO VỆ TỪ SỚM, LUẬT HÓA SỰ IM LẶNG, THỜ Ơ CỦA CỘNG ĐỒNG
Phóng viên: Hệ thống pháp luật liên quan bảo vệ trẻ em đã thay đổi và tác động như thế nào đến việc bảo vệ trẻ trước nạn bạo hành và xâm hại hiện nay, thưa ông?
Luật sư Hà Trọng Đại: Hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan bảo vệ trẻ em đã có những chuyển biến lớn từ tư duy bảo trợ trẻ em chuyển sang bảo vệ quyền trẻ em.
Trước đây, quy định của pháp luật dừng lại ở ghi nhận trẻ em như đối tượng cần chăm sóc thì trong hiện nay pháp luật xác định trẻ em là chủ thể có quyền được pháp luật bảo vệ độc lập và toàn diện. Điểm thay đổi quan trọng nhất là sự hình thành cơ chế bảo vệ đa tầng. Cụ thể theo Điều 47 Luật Trẻ em 2016 việc bảo vệ trẻ em được thực hiện theo ba cấp độ: phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp. Ngoài ra còn có sự liên kết của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Giáo dục, Luật An ninh mạng...
Một thay đổi lớn nữa là hiện nay các quy định không chỉ dừng ở xử lý hậu quả thương tích hữu hình mà bắt đầu bảo vệ cả sự phát triển tâm lý, nhân cách và môi trường sống an toàn của trẻ. Quy định của pháp luật tố tụng cũng bổ sung nhiều cơ chế bảo vệ người chưa thành niên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thiết kế cơ chế riêng cho người dưới 18 tuổi với các quy định như:
- Hạn chế hỏi cung nhiều lần, hạn chế đối chất trực tiếp;
- Phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi tham gia;
- Bảo mật thông tin cá nhân;
- Có thể ghi âm, ghi hình việc lấy lời khai;
- Ưu tiên môi trường lấy lời khai thân thiện.
Sự thay đổi này không dừng ở những thay đổi về quy định pháp lý, khung hình phạt nặng hay nhẹ hơn giữa các giai đoạn mà còn ở việc xã hội bắt đầu coi xâm hại trẻ em là hành vi nguy hiểm cần phát hiện, xử lý, can thiệp sớm.
Vì sao không ít vụ bạo hành trẻ em diễn ra mà không bị phát hiện hoặc xử lý kịp thời, thưa ông?
Khoảng trống lớn nhất trong việc thực thi pháp luật không phải thiếu quy định luật mà là khoảng cách giữa các quy định tới việc phát hiện hành vi, can thiệp thực tế.
Pháp luật đã có đầy đủ quy định xử lý sau khi hành vi xảy ra, nhưng cơ chế để buộc những người biết sự việc phải hành động bảo vệ trẻ còn chưa đủ mạnh. Trong nhiều vụ án, có trường hợp hàng xóm biết, giáo viên nghi ngờ, người thân phát hiện dấu hiệu nhưng không tố giác, để đến khi hậu quả nghiêm trọng thì chứng cứ đã mất, tâm lý trẻ bị tổn thương nặng, lời khai thiếu ổn định.
Nguyên nhân của tình trạng trên là bởi:
Một là, trong xã hội tâm lý đóng cửa bảo nhau còn rất nặng. Nhiều người chứng kiến bạo hành nhưng ngại can thiệp vì cho rằng đó là chuyện gia đình, chuyện dạy con.
Hai là, chúng ta biết trẻ em là nhóm yếu thế nhất về khả năng tự bảo vệ và tự tố giác, do đó khi một đứa trẻ bị đe dọa, bị lệ thuộc kinh tế và tình cảm vào chính người xâm hại thì bản thân đứa trẻ đó khó lên tiếng để tố giác hành vi vi phạm.
Ba là, cơ chế phối hợp giữa gia đình - nhà trường - chính quyền cơ sở - cơ quan tố tụng đôi khi còn rời rạc. Vẫn có tình trạng có những cá nhân/đơn vị phát hiện dấu hiệu cho thấy quyền trẻ em bị xâm phạm nhưng xử lý theo hướng hòa giải, nhắc nhở, làm mất đi thời điểm “vàng” để bảo vệ trẻ và thu thập chứng cứ. Điều đáng buồn là trong thực tiễn tố tụng không ít những vụ xử lý về hành vi xâm hại trẻ em gặp nhiều bất lợi, thậm chí thất bại không phải vì không có hành vi phạm tội mà vì chứng cứ bị mất, dấu vết bị xóa, lời khai trẻ bị tác động hoặc thay đổi theo thời gian.
Do đó, chúng ta muốn bảo vệ trẻ em hiệu quả thì phải chuyển từ tư duy xử lý khi hậu quả đã xảy ra sang tư duy phát hiện nguy cơ và can thiệp sớm.

Có hay không thực tế nhiều hành vi xâm phạm quyền trẻ em đang bị “bình thường hóa” trong gia đình và trường học?
Tình trạng này là có và đáng lo ngại.
Nhiều hành vi xâm phạm quyền trẻ em đang ẩn dưới danh nghĩa dạy dỗ, quản lý, rèn con trong khi bản chất có thể là bạo lực hoặc xâm hại quyền trẻ em. Người lớn chúng ta vẫn không ít người cho rằng: Cha mẹ có quyền dạy con bằng roi vọt, hay giáo viên phạt cho nhớ hoặc câu cửa miệng được lặp lại khá nhiều là “trẻ con biết gì mà tổn thương”. Chính tư duy đó làm cho nhiều hành vi vi phạm quyền trẻ em bị bình thường hóa, bị che phủ với lớp vỏ dạy dỗ trong gia đình, nhà trường..
Vấn đề khó nhất trong xử lý pháp lý đối với vấn đề này đó là nhiều hành vi xâm hại tinh thần không dễ định lượng như thương tích vật lý và chưa được đánh giá đúng mức độ khi xem xét hậu quả của nó.
Do đó các cơ quan chức năng cần nhìn nhận rộng hơn khái niệm xâm hại trẻ em, không chỉ là máu, thương tích hay tỷ lệ giám định mà còn phải đánh giá tác động tâm lý, môi trường sống và mức độ lệ thuộc của trẻ đối với người xâm hại.
Ông đánh giá thế nào về việc định khung và áp dụng hình phạt, đặc biệt với những hành vi “im lặng” khi biết con trẻ bị xâm hại?
Thực tế các quy định của pháp luật hiện nay về tội xâm hại trẻ em rất nghiêm khắc, có những tội danh có khung hình phạt tới tù chung thân hoặc tử hình. Ở góc độ cá nhân tôi hiểu rằng, vấn đề xã hội bức xúc không chỉ nằm ở mức hình phạt mà nằm ở việc áp dụng pháp luật đã đủ nghiêm và đã đúng bản chất hành vi phạm tội chưa. Câu chuyện đặt ra không phải là có nhiều bản án nặng mà là môi trường gia đình và xã hội phải luôn khiến trẻ em được an toàn trước khi tội phạm xảy ra.
Đồng thời cần phải xem xét và có cơ chế trong việc đánh giá hậu quả của hành vi xâm hại tới trẻ khi định khung và áp dụng hình phạt chứ không chỉ nên dừng lại ở việc xác định tỷ lệ thương tích hay thiệt hại vật chất tại thời điểm xác định hành vi. Một đứa trẻ bị xâm hại sức khỏe, tinh thần không chỉ chịu thương tích tại thời điểm xảy ra vụ việc mà nhiều em phải mang theo ám ảnh tâm lý, rối loạn hành vi, mất niềm tin và tổn thương kéo dài đến tận tuổi trưởng thành.
Có những vụ việc mà hành vi xâm hại diễn ra trong thời gian dài nhưng gia đình, nhà trường hoặc người xung quanh lại chọn im lặng, né tránh, thậm chí che giấu để giữ danh dự, giữ hình ảnh, thể diện...
Chính sự im lặng đó đôi khi nguy hiểm không kém hành vi xâm hại, vì điều đó khiến đứa trẻ mất cơ hội được bảo vệ kịp thời và khiến hành vi phạm tội có điều kiện tiếp diễn trong khi họ hoàn toàn có cơ hội để can thiệp, ngăn chặn hành vi.
Về mặt pháp lý thì tùy vào tính chất vụ việc, hành vi biết mà không tố giác, không ngăn chặn hoặc có dấu hiệu bao che cho người phạm tội hoàn toàn có thể bị xem xét trách nhiệm theo quy định pháp luật. Đặc biệt với các cơ sở giáo dục, tổ chức quản lý trẻ em, nếu phát hiện dấu hiệu bất thường nhưng xử lý hình thức hoặc cố tình che giấu thì cần có chế tài nghiêm khắc hơn để bảo đảm tính răn đe.
Theo luật sư, ngành Tư pháp cần thay đổi cấu trúc như thế nào để chuyển dịch sang “Tư pháp phục hồi”, nơi đứa trẻ thực sự được đặt ở trung tâm của mọi phán quyết, bao gồm cả quyền được bồi thường tổn thất tinh thần một cách dài hạn?
Để ngành Tư pháp nước ta chuyển được sang tư duy “tư pháp phục hồi” thì không thể chỉ dừng ở tinh thần nhân văn mà phải thay đổi ngay từ cấu trúc vận hành của hệ thống tư pháp liên quan đến trẻ em.
Thứ nhất, cần xác lập nguyên tắc lấy lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trung tâm thực chất trong mọi quyết định tố tụng, đúng tinh thần Luật Trẻ em 2016 và Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên. Tức là khi giải quyết một vụ việc liên quan đến trẻ em, dù là trẻ bị xâm hại hay trẻ vi phạm pháp luật thì cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ dừng lại ở việc xem xét hành vi vi phạm, mà còn phải đánh giá hậu quả tâm lý, môi trường sống, khả năng phục hồi và tái hòa nhập lâu dài của các em.
Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế tư pháp thân thiện với người chưa thành niên theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, đặc biệt là các quy định về hỏi cung, lấy lời khai, đối chất, bảo mật thông tin, hỗ trợ và hạn chế tối đa việc gây tổn thương tâm lý cho trẻ.
Thứ ba, chúng ta phải hiểu rõ rằng “tư pháp phục hồi” không có nghĩa là nương tay với vi phạm mà là xử lý để trẻ có cơ hội sửa sai thay vì bị đẩy sâu hơn vào mặc cảm và tư tưởng lệch chuẩn xã hội. Với trẻ em phạm tội, chúng ta cần ưu tiên các biện pháp giáo dục, giám sát, phục hồi nhận thức hành vi và tái hòa nhập theo tinh thần Chương XII Bộ luật Hình sự 2015 thay vì quá nặng về giam giữ.
Ngược lại, với trẻ em là nạn nhân bị xâm hại thì việc phục hồi không thể chỉ dừng ở một bản án có tội. Các em cần được hỗ trợ tâm lý dài hạn, được bảo vệ danh tính, được học tập trong môi trường an toàn và được bồi thường đầy đủ cả thiệt hại vật chất lẫn tổn thất tinh thần.
Thứ tư, hiện nay không ít những bản án tuyên bồi thường tổn thất tinh thần nhưng trên thực tế chưa đủ để phục hồi cho một đứa trẻ chịu sang chấn nhiều năm. Do đó cần nhìn nhận thiệt hại tinh thần của trẻ em theo hướng toàn diện hơn, dài hạn hơn và nhân văn hơn, thay vì chỉ dừng ở những con số mang tính định lượng cơ học.
Theo luật sư, ngành tư pháp cần thay đổi tư duy: Không chỉ bỏ tù kẻ thủ ác mà phải dùng chế tài để thay đổi nhận thức và cải tạo môi trường sống của trẻ?
Câu hỏi này cũng là điều tôi trăn trở. Muốn đưa luật vào cuộc sống thì trước tiên phải thay đổi tư duy xã hội rằng, bảo vệ trẻ em không chỉ là trách nhiệm đạo đức mà còn là trách nhiệm pháp lý của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Phải thay đổi cách làm truyền thống của Tư pháp, thay vì có hành vi vi phạm mang ra phạt tù thì phải can thiệp vào được môi trường sống của trẻ để mọi trẻ em được phát triển trong môi trường an toàn và lành mạnh.
Phải hiểu rằng, dù chế tài có nghiêm khắc tới đâu cũng chỉ là phần ngọn, điều quan trọng hơn, thực tế hơn là phải dùng chính hoạt động tư pháp để thay đổi nhận thức xã hội. Phải xây dựng và đảm bảo cho một cơ chế bắt buộc phải báo tin và can thiệp ngay đối với tổ chức, cá nhân có điều kiện biết/phải biết về nguy cơ xâm hại trẻ em có thể xảy ra. Đừng để tình trạng cứ có hậu quả mới đi xử lý hậu quả trong khi bỏ qua mất vai trò trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc giám sát, bảo vệ trẻ.
Hiện tại cần có cơ chế chặt chẽ trong quy định về trách nhiệm của cá nhân/tổ chức liên quan phải bắt buộc báo tin và can thiệp ngay khi có điều kiện phát hiện ra nguy cơ xâm hại trẻ em. Nâng cao trách nhiệm pháp lý của những người có nghĩa vụ bảo vệ trẻ em như nhà trường, cơ sở chăm sóc trẻ, người giám hộ, trường hợp thiếu trách nhiệm hoặc thuộc diện biết mà không báo không can thiệp thì phải xem xét trách nhiệm tương ứng.
Về phía các cơ quan tố tụng cần xử lý nhanh, công khai đúng mức và hình phạt đủ sức răn đe để xã hội thấy rằng quyền trẻ em là giới hạn pháp lý bất khả xâm phạm, triệt tiêu triệt để tư tưởng lối mòn về việc:
- Bạo lực với trẻ em không phải chuyện dạy con.
- Xâm hại trẻ em không thể giải quyết nội bộ
- Im lặng trước xâm hại cũng phải chịu trách nhiệm.
Việc bảo vệ trẻ em không thể chỉ nằm trên giấy hay trong các chiến dịch truyền thông mà nó chỉ thực sự hiệu quả khi người lớn chúng ta thay đổi cách nhận thức, cách hành xử với trẻ em.
TỔN THƯƠNG TÂM LÝ CÓ THỂ HỦY HOẠI CẢ ĐỜI NGƯỜI
Phóng viên: Theo ông, điều gì khiến vết thương tinh thần của trẻ em khó chữa lành hơn cả những tổn thương thể chất?
Tiến sỹ Tâm lý Đỗ Hoàng Phúc: Khi một đứa trẻ bị gãy tay, bác sĩ bó bột, cha mẹ lo lắng, bạn bè hỏi thăm và cả xã hội nhìn thấy rồi phản ứng. Nhưng khi đứa trẻ bị xúc phạm, bị bỏ bê về mặt cảm xúc, vết thương ấy không có màu sắc, không có hình dáng, và thường thì không ai nhìn thấy cả.
Từ góc nhìn thần kinh học, não bộ của trẻ em trong giai đoạn từ 0 đến 12 tuổi trong quá trình hình thành các kết nối thần kinh nền tảng. Khi sang chấn xảy ra trong giai đoạn này, nó không chỉ tạo ra ký ức xấu mà thực sự định hình lại cấu trúc vận hành của não. Vùng hạch hạnh nhân, nơi xử lý nỗi sợ hãi, trở nên quá mẫn cảm và dễ kích hoạt. Vùng vỏ não trước trán, nơi giúp con người bình tĩnh lại và suy nghĩ lý trí, lại bị phát triển chậm hơn.
Nói nôm na là đứa trẻ lớn lên với một hệ thống báo động luôn bật, nhưng cơ chế tắt báo động lại bị hỏng.
Điều làm tôi trăn trở nhất, sau nhiều năm làm việc trong lĩnh vực này, là nghịch lý: tổn thương thể chất thường đến từ bên ngoài như tai nạn hay bệnh tật, nhưng tổn thương tâm lý của trẻ em phần lớn đến từ chính những người mà đứa trẻ yêu thương và phụ thuộc nhất: cha, mẹ, người thân. Khi người bảo vệ bạn cũng là người gây hại cho bạn, não bộ không có cơ chế nào để xử lý mâu thuẫn ấy một cách lành mạnh. Tâm lý học gọi đây là gắn bó sang chấn (traumatic attachment). Đứa trẻ không thể thoát, không thể ghét, không thể yên tâm. Nó chỉ có thể co lại, và mang vết thương đó đi theo suốt cuộc đời nếu không được can thiệp đúng lúc.
Những tổn thương tâm lý từ bạo hành thời thơ ấu có thể ảnh hưởng đến tính cách và các mối quan hệ của trẻ khi trưởng thành ra sao?
Có một câu nói trong tâm lý học mà tôi tâm đắc: "The body keeps the Score" - (Tiến sĩ Bessel van der Kolk). Ý nghĩa là những gì xảy ra với một đứa trẻ không biến mất theo thời gian. Nó được lưu trữ trong cách thở, trong cách phản ứng với giọng nói to, trong cách một người co người lại khi ai đó giơ tay lên dù chỉ để với lấy chiếc ly. Cơ thể nhớ, ngay cả khi trí óc đã cố quên.
Về mặt tính cách, nghiên cứu từ chương trình ACEs, một trong những công trình dài hạn quy mô nhất về sang chấn thời thơ ấu, cho thấy những người lớn lên trong môi trường bạo hành có nguy cơ cao hơn đáng kể trong việc phát triển trầm cảm mãn tính, rối loạn lo âu, PTSD và đặc biệt là rối loạn nhân cách ranh giới. Đây là dạng rối loạn với đặc trưng là cảm xúc cực kỳ bất ổn, nỗi sợ bị bỏ rơi ám ảnh và khó duy trì hình ảnh ổn định về bản thân. Không phải ngẫu nhiên khi rối loạn này được gọi trong dân gian là “rối loạn của những người bị phản bội quá sớm.”
Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh hơn là ảnh hưởng đến các mối quan hệ, bởi đó là nơi tổn thương thực sự hiện diện trong cuộc sống hàng ngày. Một người từng bị bạo hành thời thơ ấu thường mang theo những niềm tin ngầm rất đau đớn: “Tôi không xứng đáng được yêu,” “Nếu ai đó biết con người thật của tôi, họ sẽ rời bỏ tôi,” “Tin tưởng người khác là nguy hiểm”. Những niềm tin này không phải do họ chọn mà được hình thành như một cơ chế sinh tồn trong môi trường mà yêu thương đi kèm với nỗi đau. Và rồi khi trưởng thành, họ hoặc né tránh sự thân mật hoàn toàn, hoặc bám víu vào các mối quan hệ một cách lo âu và tuyệt vọng. Cả hai đều là những cái bẫy cô đơn theo cách riêng của chúng.

Một đứa trẻ lớn lên trong bạo lực liệu có dễ lặp lại vòng lặp tổn thương ấy với chính bản thân hoặc người khác trong tương lai không?
Một đứa trẻ lớn lên trong bạo lực không chỉ bị tổn thương mà còn bị dạy, dù không ai nói thành lời, rằng đây là cách thế giới vận hành. Bạo lực trở thành ngôn ngữ quen thuộc duy nhất mà trẻ biết để xử lý xung đột, để thể hiện quyền lực, đôi khi thậm chí để thể hiện tình yêu. Khi lớn lên, trong những khoảnh khắc căng thẳng hay mất kiểm soát, não bộ sẽ tự động kéo về những gì trẻ đã học từ nhỏ. Tâm lý học gọi đây là sự lặp lại cưỡng bức (compulsion to repeat): người ta không lặp lại vì họ muốn, mà vì đó là con đường duy nhất não bộ của họ biết đi.
Ngoài ra còn có một chiều khác ít được nói đến hơn: nhiều nạn nhân bạo hành khi lớn lên không trở thành người gây hại cho người khác mà lại hướng sự tổn thương vào chính bản thân. Họ tự trách mình, tự hủy hoại các cơ hội tốt đẹp trong cuộc sống, chọn những mối quan hệ độc hại vì cảm giác bị đối xử tệ lại quen thuộc và “an toàn” hơn là được yêu thương đúng nghĩa. Đây cũng là một dạng lặp lại vòng tổn thương, chỉ là hướng vào trong thay vì hướng ra ngoài.
Tuy nhiên, và tôi muốn nhấn mạnh điều này, nguy cơ không phải là số phận. Các nghiên cứu lớn trên thế giới đều cho thấy phần lớn những người từng bị bạo hành không trở thành người bạo hành. Điều quyết định không phải là những gì đã xảy ra với họ, mà là những gì xảy ra sau đó. Chỉ cần có một người lớn đáng tin xuất hiện đúng lúc và nói rằng “con xứng đáng được đối xử tốt hơn thế”, điều đó đã có thể thay đổi hoàn toàn quỹ đạo cuộc đời của một con người. Đó là lý do can thiệp sớm không chỉ là việc nhân đạo mà còn là việc khoa học, có bằng chứng và có hiệu quả thực sự.
Là chuyên gia tâm lý, ông có đề xuất gì về việc thay đổi chính sách pháp luật hỗ trợ về mặt tâm lý cho nạn nhân bị bạo hành?
Đề xuất cấp bách nhất là can thiệp tâm lý phải được quy định như một quyền pháp lý của nạn nhân, không phải một dịch vụ tùy chọn hay từ thiện. Ngay khi một vụ bạo hành trẻ em được xác nhận, phải có quy trình bắt buộc đánh giá tâm lý và kết nối can thiệp, song song với quá trình tố tụng chứ không phải sau đó. Bởi vì sang chấn không chờ đợi thủ tục hành chính.
Thứ hai, chúng ta cần xây dựng mô hình Tòa án thân thiện với trẻ em, một khái niệm đã được nhiều quốc gia tiên tiến áp dụng. Trong mô hình này, trẻ em không phải trực tiếp khai trước tòa theo kiểu thẩm vấn thông thường vì về mặt tâm lý học, điều đó thực chất là một hình thức tái sang chấn. Thay vào đó, các chuyên gia tâm lý lâm sàng được đào tạo chuyên sâu sẽ làm việc trực tiếp với trẻ trong môi trường an toàn. Lời khai được ghi nhận qua các phương pháp phỏng vấn chuẩn hóa như NICHD Protocol hay CornerHouse RATAC vốn đã được kiểm chứng là giảm thiểu tái sang chấn đồng thời vẫn đảm bảo tính tin cậy pháp lý.
Cuối cùng, nền tảng của mọi thay đổi là đầu tư vào đội ngũ chuyên gia tâm lý lâm sàng chuyên về sang chấn trẻ em, và tạo ra cơ chế phối hợp thực sự giữa ngành y tế, giáo dục, tư pháp và bảo trợ xã hội.
CẦN PHẢI CẮP SÁCH ĐI HỌC LÀM CHA, LÀM MẸ
Gia đình là lá chắn đầu tiên, nơi bao bọc trẻ. Tuy nhiên, mấy ai cắp sách đi học làm vợ, làm chồng, làm cha làm mẹ. Những kỹ năng xử lý mâu thuẫn gia đình, ứng xử với trẻ, cho đến bảo vệ trẻ… đều là “kinh nghiệm”. Hiện nay, các lớp học kỹ năng rất nhiều, nhưng ít có các lớp học làm cha, mẹ. TS- BS Vũ Thị Kim Hoa- Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam đã khẳng định, cần phải học làm cha mẹ từ khi kết hôn. Đây là cách giảm bạo lực gia đình, giảm bạo hành trẻ em!

LỜI KẾT
Khi một vụ bạo hành được đưa ra tòa, điều mà pháp luật tập trung là bằng chứng, tội danh và hình phạt. Đó là việc cần thiết! Nhưng, khi phiên tòa kết thúc, đứa trẻ vẫn còn đó với những vết thương bên trong. Thường thì không có quy trình nào tiếp theo để “đeo đuổi” vết thương lòng. Đây là khoảng trống chính sách cần phải lấp đầy.
Một xã hội văn minh không được đo bằng cách lên án sau khi bi kịch xảy ra, mà bằng khả năng nhận diện và ngăn chặn bi kịch trước khi nó cướp đi sự bình yên của một đứa trẻ. Bảo vệ trẻ em vì thế không chỉ là yêu cầu của pháp luật hay trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức; đó là giới hạn cuối cùng của lương tri và là thước đo chân thực nhất của sự tiến bộ xã hội.
Bảo vệ trẻ em không chỉ là bảo vệ con người hôm nay, mà là bảo vệ phẩm giá của xã hội và tương lai của đất nước. Mọi đứa trẻ đều có quyền được lớn lên trong yêu thương, an toàn và được lắng nghe.
Một đứa trẻ bị bạo hành là nỗi đau của một gia đình. Nhưng một đứa trẻ phát đi tín hiệu cầu cứu mà không ai nhận ra, không ai lắng nghe và không ai hành động, đó không còn là bi kịch của riêng của đứa trẻ - đó là sự thất bại của cả xã hội.
Nhóm PV Báo Pháp Luật Việt Nam thực hiện loạt bài này, mong được góp thêm tiếng nói cấp bách hơn nữa để toàn xã hội vào cuộc vì sự phát triển lành mạnh của trẻ, vì tương lai vững bền của chúng ta!