MẠCH NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM - SỨC ĐỀ KHÁNG NỘI SINH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ -

Kỳ 2: Phát huy ba tầng lá chắn của 'sức đề kháng nội sinh'

Kỳ 2: Phát huy ba tầng lá chắn của 'sức đề kháng nội sinh'
Cờ Tổ quốc tung bay trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nơi lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc từng bước trở thành tầng lá chắn sâu nhất trong bảo vệ nền tảng lịch sử, bản sắc văn hóa và niềm tin chính trị

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, không gian văn hóa của mỗi quốc gia trở nên mở hơn, đa chiều hơn và chịu tác động mạnh mẽ hơn từ nhiều nguồn khác nhau.

Điều này tạo điều kiện để giao lưu, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn đối với việc giữ gìn bản sắc và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Chúng ta không thể lựa chọn cách khép kín để tránh tác động tiêu cực, nhưng cũng không thể buông lỏng để mọi luồng tư tưởng, mọi trào lưu văn hóa xâm nhập không qua sàng lọc. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới đã nhấn mạnh sự cần thiết phải “gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[1]

Điều cốt lõi là phải hình thành được một “hệ miễn dịch văn hóa” đủ mạnh. Hệ miễn dịch ấy không phải là sự khước từ cái mới, mà là khả năng tiếp nhận có chọn lọc; không phải là thái độ phòng thủ thụ động, mà là bản lĩnh chủ động phân biệt, đánh giá và chuyển hóa. Hệ miễn dịch ấy được cấu thành từ nhiều lớp giá trị, trong đó có ba tầng đặc biệt quan trọng: lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc; tinh thần đoàn kết, nghĩa đồng bào; và hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ.

Trước hết, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc là tầng lá chắn sâu nhất trong bảo vệ nền tảng lịch sử, bản sắc văn hóa và niềm tin chính trị. Yêu nước không chỉ là cảm xúc tự nhiên, mà còn là một giá trị được tôi luyện qua lịch sử. Đó là ý thức về cội nguồn, là trách nhiệm với cộng đồng, là khát vọng gìn giữ độc lập, tự do và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong mọi giai đoạn lịch sử, lòng yêu nước luôn là sợi dây kết nối các thế hệ người Việt Nam, tạo nên sức mạnh vượt qua chiến tranh, thiên tai, nghèo khó và những biến động phức tạp của thời đại.

Trong kỷ nguyên số, việc xuyên tạc lịch sử không còn diễn ra bằng những hình thức thô sơ, dễ nhận diện. Nhiều nội dung sai lệch được trình bày dưới dạng video ngắn, bài viết mạng xã hội, sản phẩm giải trí, bình luận lịch sử hoặc diễn ngôn “học thuật” thiếu căn cứ. Những nội dung này thường không phủ nhận trực tiếp toàn bộ lịch sử, mà cắt rời sự kiện khỏi bối cảnh, thổi phồng hạn chế, làm mờ thành tựu, từ đó gieo vào người tiếp nhận sự hoài nghi và tâm lý phủ định. Nếu thiếu nền tảng lịch sử và lòng tự hào dân tộc, người tiếp nhận rất dễ bị lôi cuốn bởi những cách diễn giải tưởng như mới mẻ nhưng thực chất là sai lệch.

Vì vậy, bồi dưỡng lòng yêu nước trong điều kiện mới không thể chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức lịch sử. Điều quan trọng hơn là phải làm cho lịch sử trở thành ký ức sống, làm cho truyền thống trở thành niềm tin và động lực hành động. Khi thế hệ trẻ không chỉ “biết” lịch sử, mà còn “hiểu”, “cảm” và “tự hào” về lịch sử, thì họ sẽ có khả năng tự bảo vệ trước các luận điệu xuyên tạc. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Văn hóa còn thì dân tộc còn. Văn hóa mất thì dân tộc mất”[2]. Nhận định ấy là một lời nhắc nhở sâu sắc rằng đánh mất văn hóa cũng chính là đánh mất nền tảng tinh thần của dân tộc.

Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam cũng là những “cột mốc tinh thần” quan trọng trong việc bồi đắp lòng yêu nước. Theo thông tin của Cục Di sản văn hóa, cả nước có hơn 4 vạn di tích đã được kiểm kê, cùng hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú. Mỗi di tích, lễ hội, làn điệu dân ca, phong tục, tập quán tốt đẹp đều là một phần ký ức dân tộc, góp phần kết nối quá khứ với hiện tại, giúp con người hôm nay nhận ra mình thuộc về một cộng đồng lịch sử có chiều sâu, có phẩm giá và có bản sắc.

Tầng lá chắn thứ hai là tinh thần đoàn kết, nghĩa đồng bào. Nếu lòng yêu nước tạo nên nền tảng tinh thần, thì đoàn kết tạo nên sức mạnh tổ chức và sự gắn bó xã hội. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu, mà là phương thức tồn tại và phát triển. Từ cộng đồng làng xã đến quốc gia dân tộc, từ đấu tranh giành độc lập đến xây dựng đất nước, tinh thần đồng lòng, tương trợ, sẻ chia luôn là nguồn sức mạnh đặc biệt.

Sự kiện Nam Bộ kháng chiến ngày 23/9/1945 - biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí bảo vệ độc lập, tự do (Nguồn baotanglichsutphcm.com.vn)
Sự kiện Nam Bộ kháng chiến ngày 23/9/1945 - biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí bảo vệ độc lập, tự do (Nguồn baotanglichsutphcm.com.vn)

Trong điều kiện hiện nay, khi đời sống xã hội ngày càng đa dạng, lợi ích xã hội ngày càng phong phú, các mối quan hệ ngày càng phức tạp, việc giữ gìn đoàn kết lại càng có ý nghĩa quan trọng. Các thế lực thù địch thường tìm cách khai thác khác biệt về vùng miền, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, thế hệ hoặc điều kiện kinh tế để kích động tâm lý đối lập, gây nghi ngờ, chia rẽ và làm suy giảm đồng thuận xã hội. Trên không gian mạng, chỉ một thông tin chưa được kiểm chứng, một phát ngôn bị cắt ghép, một vụ việc bị thổi phồng cũng có thể tạo ra làn sóng bức xúc, nếu thiếu cơ chế định hướng và thiếu bản lĩnh tiếp nhận.

Chính vì vậy, tinh thần “đồng bào” có giá trị đặc biệt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng. Hai tiếng “đồng bào” không chỉ gợi nhắc nguồn cội chung, mà còn thể hiện triết lý sống của người Việt Nam: biết gắn cá nhân với cộng đồng, biết đặt lợi ích chung lên trên những khác biệt cục bộ, biết chia sẻ trước khó khăn và cùng nhau vượt qua thử thách. Khi tinh thần ấy được khơi dậy, xã hội sẽ hình thành một “thế trận lòng dân” vững chắc. Khi lòng dân ổn định, niềm tin được củng cố, thì mọi âm mưu kích động, chia rẽ sẽ khó có điều kiện phát huy tác động.

Tầng lá chắn thứ ba là hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Nếu lòng yêu nước giúp con người có điểm tựa về cội nguồn, nếu đoàn kết giúp xã hội có sức mạnh gắn kết, thì Chân - Thiện - Mỹ định hướng cho hành vi, lối sống và năng lực tự điều chỉnh của mỗi cá nhân. Trong môi trường số, nơi thật - giả, đúng - sai, cao đẹp - lệch chuẩn đan xen phức tạp, hệ giá trị này càng trở nên quan trọng.

“Chân” giúp con người tôn trọng sự thật, biết tìm kiếm thông tin chính xác, không dễ tin theo tin giả, không lan truyền nội dung chưa được kiểm chứng. “Thiện” giúp con người biết hướng tới điều tốt đẹp, ứng xử có trách nhiệm, không cổ súy sự thù ghét, vô cảm hay cực đoan. “Mỹ” giúp con người biết hướng tới cái đẹp, cái văn minh, cái nhân văn, không bị cuốn theo những trào lưu phản cảm, dung tục, lệch chuẩn. Khi ba giá trị ấy được bồi đắp trong gia đình, nhà trường, xã hội và môi trường truyền thông, mỗi cá nhân sẽ trở thành một “bộ lọc” văn hóa có khả năng tự bảo vệ.

Cũng theo PGS,TS.Vũ Thị Phương Hậu - Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, để xây dựng một “hệ miễn dịch văn hóa” cho xã hội trong kỷ nguyên số, điều quan trọng nhất không chỉ nằm ở các biện pháp quản lý hay kiểm soát thông tin mà phải bắt đầu từ việc bồi đắp năng lực tự đề kháng trong mỗi con người. Một xã hội chỉ thực sự vững mạnh khi từng cá nhân có khả năng tự sàng lọc thông tin, tự điều chỉnh hành vi và giữ được bản lĩnh văn hóa trước những tác động tiêu cực trên không gian mạnh

PGS,TS.Vũ Thị Phương Hậu - Viện trưởng Viện Văn hóa  và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh NVCC)
PGS,TS.Vũ Thị Phương Hậu - Viện trưởng Viện Văn hóa  và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh NVCC)

Muốn làm được điều đó, trước hết cần chú trọng giáo dục hệ giá trị văn hóa và đạo đức cho thế hệ trẻ. Không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức, giáo dục phải giúp người trẻ hiểu sâu sắc về lịch sử dân tộc, giá trị của hòa bình, độc lập, lòng yêu nước, tinh thần nhân ái và trách nhiệm với cộng đồng. Khi con người có “gốc rễ văn hóa” vững vàng, họ sẽ không dễ bị tác động bởi các thông tin sai lệch hay những quan điểm cực đoan trên mạng xã hội. Bên cạnh đó, cần xây dựng một môi trường văn hóa số lành mạnh, nơi các giá trị Chân - Thiện - Mỹ được lan tỏa bằng những hình thức gần gũi, sáng tạo và có sức hấp dẫn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Trong thời đại số, bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể chỉ bằng những thông điệp mang tính lý luận khô cứng mà cần thông qua các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, truyền thông hiện đại, có chiều sâu cảm xúc và khả năng khơi dậy niềm tự hào dân tộc, phù hợp với tâm lý, thị hiếu thẩm mỹ của mọi tầng lớp trong xã hội. Đồng thời, vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng cũng hết sức quan trọng trong việc hình thành “thói quen văn hóa số” cho xã hội. Gia đình phải là nơi nuôi dưỡng nhân cách và các giá trị nền tảng; nhà trường cần trang bị kỹ năng số, kỹ năng phản biện và văn hóa ứng xử trên không gian mạng; còn cộng đồng xã hội phải cùng nhau xây dựng chuẩn mực ứng xử văn minh, nhân văn và trách nhiệm.

Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định, “lá chắn mềm” hiệu quả nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là khi các giá trị như lòng yêu nước, tinh thần đồng bào và hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ không chỉ tồn tại trong khẩu hiệu mà thực sự trở thành niềm tin, thành cách sống và thành bản lĩnh văn hóa của mỗi con người Việt Nam. Khi đó, sức mạnh văn hóa sẽ trở thành sức mạnh nội sinh bền vững, đủ khả năng giúp xã hội tự bảo vệ mình trước mọi tác động tiêu cực trong kỷ nguyên số.

Cũng từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa, PGS,TS.Vũ Thị Phương Hậu nhấn mạnh “mạch nguồn văn hóa Việt Nam” chính là nền tảng tinh thần cốt lõi tạo nên sức đề kháng nội sinh của dân tộc trước mọi biến động lịch sử, trong đó có những tác động ngày càng tinh vi trên không gian số hiện nay. Văn hóa Việt Nam không chỉ là hệ thống phong tục, tập quán hay di sản truyền thống, mà sâu xa hơn là hệ giá trị đã được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, sự nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý và khát vọng độc lập, tự cường. Chính những giá trị ấy đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua nhiều thử thách trong lịch sử và hôm nay tiếp tục trở thành “lá chắn tinh thần” trước các nguy cơ xâm nhập về tư tưởng, văn hóa trên môi trường số”.

“Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, các luồng thông tin đa chiều, thậm chí sai lệch, độc hại có thể tác động âm thầm vào nhận thức xã hội, làm nhiễu loạn hệ giá trị, gây hoài nghi, chia rẽ hoặc làm phai nhạt niềm tin của một bộ phận người dân, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, nếu con người được nuôi dưỡng trong một nền văn hóa giàu bản sắc và có nền tảng giá trị vững vàng thì họ sẽ hình thành khả năng tự “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc hay các xu hướng lệch chuẩn. Có thể nói, văn hóa chính là “bộ lọc tinh thần” giúp con người nhận diện đúng - sai, tốt - xấu, … giữ được bản lĩnh trước sự hỗn độn của thông tin và từ đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách tự nhiên, bền vững.

Điều quan trọng là sức mạnh của văn hóa không nằm ở sự áp đặt mà ở khả năng thẩm thấu sâu vào đời sống xã hội. Khi lòng yêu nước, tinh thần đồng bào và niềm tự hào dân tộc trở thành ý thức tự giác trong mỗi con người thì xã hội sẽ hình thành một sức đề kháng nội sinh rất mạnh. Đây cũng là yếu tố quyết định để giữ vững ổn định tư tưởng và củng cố niềm tin xã hội trong kỷ nguyên số hiện nay”, PGS TS Vũ Thị Phương Hậu cho hay.

Đạt Trần - Mỵ Châu - Minh Anh