Kỳ 2: Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển các khu, cụm công nghiệp

Hải Phòng xác định mục tiêu tập trung phát triển dịch vụ và công nghiệp, tạo sự tăng trưởng vượt bậc, của nền kinh tế.

(Tiếp theo kỳ trước)

Thiếu hệ thống xử lý chất thải và chống ô nhiễm môi trường

Vấn đề xử lý chất thải và bảo vệ môi trường ở các khu, cụm công nghiệp (KCN) chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, khu vực gần các KCN hoặc nơi tập trung nhiều nhà máy công nghiệp, có tình trạng rác thải công nghiệp đổ bừa bãi ven các tuyến đường, cạnh bờ ruộng; nước thải ít được xử lý mà thải trực tiếp xuống các kênh mương, ra sông, ảnh hưởng đến môi trường, đời sống của dân cư. Ngay cụm công nghiệp Vĩnh Niệm được thành phố đầu tư đồng bộ, nhưng theo phản ánh của lãnh đạo địa phương không hiểu sao hệ thống xử lý nước thải của cụm công nghiệp không hoạt động, toàn bộ nước thải thoát tự nhiên ra mương thoát nước Tây- Nam thành phố rồi đổ ra sông Lạch Tray. Không chỉ nước thải, nhiều doanh nghiệp đem đổ cả rác thải xuống sông hoặc đổ trộm vào các khu dân cư trong phường. Tại các khu công nghiệp Văn Tràng- Trường Sơn, xã Quang Hưng...(huyện An Lão) xuất hiện nhiều bãi rác tự do, trong số đó có cả rác thải da giày.

Đối với khu công nghiệp phía Tây và Tây Bắc thành phố (Vật Cách- Quán Toan), vấn đề ô nhiễm về khói, bụi, tiếng ồn cũng cần được quan tâm. Đây là khu công nghiệp tập trung nhiều ngành sản xuất công nghiệp nặng như cơ khí, cán thép xây dựng, bên cạnh đó là cửa ngõ giao thông từ thành phố đi Hà Nội nên mật độ giao thông rất lớn. Mặc dù một số doanh nghiệp lớn như các công ty Vinapipe, Vinausteel, SSE...có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong doanh nghiệp, song nhìn chung, ô nhiễm về khói, bụi và tiếng ồn ở khu vực này vẫn chưa khắc phục được. Ngoài hơn 20 ha đất kẹt không sản xuất được, phường Quán Toan còn khoảng 100/308 ha đất cấy lúa bị ảnh hưởng do ô nhiễm nguồn nước, năng suất rất thấp. Tại các khu công nghiệp Minh Đức- Tràng Kênh và một số xã của huyện Thuỷ Nguyên như Lại Xuân, Phi Liệt...tình trạng khai thác cát đá tràn lan, nung vôi, đóng gạch gây khói, bụi...không chỉ làm ảnh tới môi trường dân cư mà ảnh hưởng lớn tới kế hoạch khai thác tài nguyên của thành phố.

Đối với các làng nghề có sản xuất công nghiệp như Kha Lâm, Tràng Minh (Kiến An), Mỹ Đồng (Thuỷ Nguyên)... vấn đề ô nhiễm môi trường còn nặng nề hơn. Nhiều gia đình chỉ đầu tư sản xuất mà không hề đầu tư bảo vệ môi trường. Ô nhiễm bụi, tiếng ồn, mùi khó chịu trong các làng nghề khá nặng nề. Nhiều người mắc các bệnh nghề nghiệp như bụi phổi, điếc do tiếng ồn...

Việc cấp điện, nước sinh hoạt thiếu đồng bộ

Tại một số KCN lớn: Vật Cách- Quán Toan, Đình Vũ, Hải Thành... các ngành chức năng như điện, nước thường phải chạy theo... để cấp điện, nước cho các doanh nghiệp hoạt động. Việc đầu tư ở đây theo nguyên tắc, các doanh nghiệp 'mọc lên' đến đâu, điện, nước cấp đến đó. Sau đó, nếu khu công nghiệp còn chiều hướng phát triển mới được đầu tư nâng cấp, cải tạo chứ ít có sự đi trước, đón đầuuuu cho toàn khu. Điều này cũng gây ra bất cập vì có trường hợp điện, nước chạy không kịp với sự phát triển của các doanh nghiệp do những khó khăn đầu tư vốn, giải phóng mặt bằng và nhiều lý do khác. Nguyên nhân của tình trạng trên là do suất đầu tư về điện, nước rất lớn trong điều kiện nguồn vốn ngành chủ quản còn hạn hẹp. Một số doanh nghiệp được đầu tư đón đầuuuu lại chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả. Bởi vậy, Công ty Điện lực Hải Phòng thường yêu cầu doanh nghiệp ký trước hợp đồng nguyên tắc để có cơ sở báo cáo Tổng công ty Điện lực cho phép đầu tư để khỏi lãng phí vốn.

Đối với các KCN nhỏ ở các quận, huyện, vấn đề điện, nước luôn là vấn đề nan giải. Phần lớn các công trình điện, nước do các doanh nghiệp tự đầu tư và đấu nối vào hệ thống lưới điện hoặc hệ thống cấp nước của thành phố đã có sẵn. Bởi vậy, nếu việc phát triển các doanh nghiệp không tương xứng với hệ thống hạ tầng kỹ thuật sẽ dẫn đến quá tải. Đây là điều thường xảy ra đối với nhiều trạm biến áp của ngành điện, lại phải nâng cấp, cải tạo trạm biến áp và hệ thống đường dây. Cũng do việc doanh nghiệp tự đầu tư, đấu nối đường điện của các doanh nghiệp nên xảy ra nhiều bất cập. Trong cụm công nghiệp ở phía Tây-Bắc thị trấn An Lão, nhiều doanh nghiệp mắc đấu nối đường điện lằng nhằng như mạng nhện, dễ phát sinh sự cố khi mưa, bão và nguy hiểm tới tính mạng con người. Đó là chưa kể hệ thống lưới điện của doanh nghiệp lộ cộ, đầu tư chắp vá trong khi hệ thống lưới điện thành phố khá hoàn chỉnh và hiện đại, chỉ một sự cố ở một doanh nghiệp hoặc một khu vực có thể làm mất điện trên diện rộng. Việc đầu tư đường cấp nước cũng khá chậm. Nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp ở huyện An Lão hiện đang phải tự làm đường dẫn nước sạch từ Kiến An sang.

Bất cập về lao động

Do sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp và các khu công nghiệp đòi hỏi lực lượng lao động lớn. Thành phố thành lập một trung tâm đào tạo lao động cho các KCN và khu chế xuất trực thuộc Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự thiếu hụt không chỉ đối với lao động có trình độ cao về chuyên môn và ngoại ngữ mà bao gồm cả lao động phổ thông như ở các ngành dệt may, da giày. Riêng ngành da giày, hiện đang thiếu khoảng 3.000 lao động ở các doanh nghiệp đang hoạt động có nhu cầu mở rộng sản xuất, chưa tính đến doanh nghiệp mới hoặc sẽ thành lập. Nhiều công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài trong KCN Nomura phải liên kết với các trường đại học trong nước, hỗ trợ, tài trợ cho các học sinh để khuyến khích họ vào làm việc cho công ty khi ra trường. Một số doanh nghiệp lớn muốn đầu tư vào thành phố nhưng còn e ngại về vấn đề lao động. Có doanh nghiệp chuyển hẳn một số dự án sang tỉnh ngoài hoặc vùng phụ cận để thu hút lao động như Công ty TNHH Sao Vàng đầu tư nhà máy ở Quảng Ninh, Công ty Yazaki dự định đầu tư về huyện Vĩnh Bảo để thu hút lao động của tỉnh Thái Bình. Đây cũng là một trong các nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh trong thu hút đầu tư vào Hải Phòng so với các tỉnh khác.

Ngoài ra, do chưa có các quy định chặt chẽ về quản lý lao động, hiện tượng biến động về lao động của các doanh nghiệp dệt may, da giày thường xuyên xảy ra. Vấn đề này nảy sinh từ hai phía : doanh nghiệp và người lao động. Một số doanh nghiệp do chưa nắm vững hoặc cố tình thực hiện chưa đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động dẫn đến tình trạng vi phạm quyền lợi của người lao động về việc làm thêm giờ, chế độ lương và một số chế độ khác như thai sản, sinh con đối với lao động nữ, chế độ nghỉ phép nói chung, không đóng BHXH, BHYT đầy đủ dẫn đến một số vụ ngừng việc tập thể, ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của đơn vị và gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước. Về phía người lao động cũng chưa có sự hiểu biết thấu đáo về quyền lợi và nghĩa vụ lao động của mình, trong khi đó, thu nhập của người lao động nhìn chung thấp so với mặt bằng giá cả hiện nay. Bởi vậy, chỉ cần doanh nghiệp thành lập sau trả lương cao hơn, người lao động sẵn sàng bỏ nơi làm việc cũ để chuyển sang nơi làm việc mới.

(còn tiếp)