Kinh tế Việt Nam và sức hút dòng vốn ngoại - Bài cuối: Từ đối tác trở thành “đại sứ” của Việt Nam…

Kinh tế Việt Nam và sức hút dòng vốn ngoại - Bài cuối: Từ đối tác trở thành “đại sứ” của Việt Nam…
Ông Bruno Jaspaert (giữa) và ông Nguyễn Thanh Nghị (bìa phải) - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương giao lưu tại sự kiện EuroCham ra mắt Sách Trắng với các khuyến nghị cho nền kinh tế Việt Nam. (Ảnh: TH)

Có một thước đo rất đặc biệt về sức hấp dẫn của một quốc gia đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đó không phải là số lượng hội nghị xúc tiến đầu tư được tổ chức, cũng không chỉ là quy mô vốn FDI đăng ký. Thành công lớn nhất là khi chính những doanh nghiệp đã đầu tư dùng uy tín của mình để giới thiệu quốc gia ấy với những nhà đầu tư khác…

“Lực lượng xúc tiến đầu tư” đặc biệt

Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đang dần sở hữu một “lực lượng xúc tiến đầu tư” rất đặc biệt. Họ không phải cán bộ ngoại giao, không làm công tác xúc tiến thương mại, cũng không xuất hiện trong các chiến dịch quảng bá. Họ là hàng chục nghìn doanh nghiệp nước ngoài đang sản xuất, kinh doanh và gắn bó với Việt Nam mỗi ngày. Khi họ tiếp tục mở rộng đầu tư, kể cho đối tác về những trải nghiệm tích cực, hay khuyến nghị bạn bè, doanh nghiệp khác đến Việt Nam, họ đã trở thành những “đại sứ” thuyết phục nhất của môi trường đầu tư Việt Nam.

Trong các Báo cáo Chỉ số Môi trường Kinh doanh (BCI) hàng quý của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), số lượng doanh nghiệp châu Âu đồng ý giới thiệu Việt Nam là điểm đến lý tưởng cho các doanh nghiệp khác luôn chiếm tỷ lệ khá cao. Mới nhất, theo công bố BCI quý I/2026, có tới 93% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu cho biết sẵn sàng giới thiệu Việt Nam là điểm đến đầu tư cho các doanh nghiệp khác. Đằng sau con số đó không đơn thuần là một cuộc khảo sát về mức độ hài lòng, mà phản ánh một tầng niềm tin cao hơn: doanh nghiệp sẵn sàng dùng chính uy tín của mình để giới thiệu Việt Nam với các đối tác quốc tế.

Theo Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert, sự chuyển dịch kinh tế hướng tới một tương lai đa dạng hóa đang diễn ra trong bối cảnh toàn cầu ngày càng trở nên khó lường hơn rất nhiều. Các chuỗi cung ứng đang được định hình lại, các tuyến đường thương mại được đánh giá lại và các yếu tố địa chính trị giờ đây đã được đặt ngang hàng với các cân nhắc thuần túy về kinh tế. Trong tình hình đó, sự kiên cường trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã trở thành một điểm sáng nổi bật. Điều này không phải vì Việt Nam miễn nhiễm trước các làn sóng đứt gãy, mà là bởi nền kinh tế này biết cách giảm thiểu và thích ứng bằng một sự linh hoạt ứng biến đáng khâm phục.

Là một người nước ngoài coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình, ông Bruno Jaspaert khẳng định rằng niềm tin của ông vào Việt Nam được xây dựng từ chính thực tế vận hành hàng ngày. Điều này thể hiện qua các khu công nghiệp đang không ngừng mở rộng, các cảng biển hoạt động với hiệu suất ngày một cao hơn và các hội đồng đầu tư đang phê duyệt những dự án có thời gian hoàn vốn lên tới 10 - 15 năm, minh chứng rõ nét cho sự tin tưởng của họ vào tương lai kinh tế của Việt Nam.

“Nếu có thể, tôi muốn khuyến nghị Việt Nam không nên chạy theo những thắng lợi ngắn hạn, mà hãy tập trung xây dựng năng lực nội tại trong dài hạn. Một nỗ lực kiên định nhằm quảng bá và biến quốc gia này trở nên hấp dẫn nhất có thể trong mắt các nhà đầu tư chính là điều mà các doanh nghiệp châu Âu đang tìm kiếm” - ông Bruno Jaspaert nói.

Cũng theo ông Bruno Jaspaert, điều khiến cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tiếp tục đặt niềm tin vào Việt Nam không phải vì nơi đây không chịu tác động của những biến động toàn cầu, mà bởi Việt Nam luôn cho thấy khả năng thích ứng rất nhanh. Ông gọi đó là sức mạnh của một nền kinh tế có khả năng “điều chỉnh cánh buồm ngay trong cơn bão”. “Tôi tin rằng mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam đang dần trở thành hiện thực. Việt Nam không chỉ chống chịu trước biến động mà đang học cách tận dụng chính những biến động đó để phát triển” - ông Bruno Jaspaert nhận định.

“Hiệu ứng truyền miệng” trong cộng đồng doanh nghiệp quốc tế

Theo chuyên gia xúc tiến xuất khẩu Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VietGo (Công ty chuyên tư vấn xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt), trong thương mại quốc tế tồn tại một quy luật rất phổ biến: doanh nghiệp thường tin vào trải nghiệm của doanh nghiệp khác. Ở hầu hết các ngành hàng đều có những nhà mua hàng lớn, những tập đoàn thương mại và hệ thống phân phối chi phối phần lớn thị trường. Họ thường xuyên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và giới thiệu đối tác cho nhau.

Ông Nguyễn Tuấn Việt đưa nhà mua hàng quốc tế tham quan các cơ sở sản xuất ở Việt Nam. (Ảnh: ĐT)
Ông Nguyễn Tuấn Việt đưa nhà mua hàng quốc tế tham quan các cơ sở sản xuất ở Việt Nam. (Ảnh: ĐT)

“Trong thương mại quốc tế, khoảng 20% khách hàng lớn, những nhà mua hàng chủ chốt sẽ tạo ra tới 80% doanh số của thị trường. Các nhà mua hàng lớn này luôn tồn tại một mạng lưới liên kết cực kỳ chặt chẽ, họ thường xuyên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và giới thiệu nguồn hàng cho nhau. Vì thế, khi Việt Nam tạo dựng được uy tín với một “ông lớn”, niềm tin đó sẽ lan tỏa với tốc độ chóng mặt trong toàn bộ cộng đồng này” - ông Việt nói.

Điều đó cũng lý giải vì sao uy tín của một quốc gia đôi khi được xây dựng không phải bằng những chiến dịch quảng bá rầm rộ, mà bằng chính những trải nghiệm tích cực của các doanh nghiệp đang hoạt động tại quốc gia đó.

“Việt Nam mang sức mạnh của một nền kinh tế có khả năng “điều chỉnh cánh buồm ngay trong cơn bão”. Tôi tin rằng mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam đang dần trở thành hiện thực. Bởi Việt Nam không chỉ chống chịu trước biến động mà đang học cách tận dụng chính những biến động đó để phát triển” - ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch EuroCham.

Theo chuyên gia Nguyễn Tuấn Việt, rất khó chỉ ra một trường hợp cụ thể một doanh nghiệp thu mua quốc tế đã giới thiệu bao nhiêu đối tác khác đến Việt Nam, bởi đây là xu hướng diễn ra trên phạm vi toàn cầu. “Tuy nhiên, điều quan trọng là Việt Nam đang tạo được niềm tin với các đối tác quốc tế. Khi họ cảm thấy việc hợp tác ổn định, môi trường kinh doanh an toàn và hoạt động logistics ngày càng thuận lợi thì bản thân họ sẽ chủ động chia sẻ những trải nghiệm đó với các doanh nghiệp khác” - ông Việt khẳng định.

Và Việt Nam trở thành một trong những lựa chọn được nhắc đến nhiều không chỉ bởi vị trí địa lý hay mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng khắp, mà còn bởi hình ảnh một quốc gia ổn định về chính trị, an toàn về xã hội và có khả năng duy trì hoạt động sản xuất ngay cả trong những giai đoạn nhiều biến động.

“Doanh nghiệp cũng giống như khách du lịch vậy. Khi chuẩn bị đến một vùng đất mới, việc đầu tiên họ làm là hỏi người thân, bạn bè xem nơi đó có an toàn không, có thể yên tâm đi lại hay không. Khi các doanh nghiệp nước ngoài truyền tai nhau rằng Việt Nam là một nơi “đất lành chim đậu”, môi trường sống tốt, con người thân thiện, xã hội ổn định và nền kinh tế phát triển nhanh, bản thân điều đó đã trở thành một “tín hiệu” bảo chứng tối cao cho môi trường kinh doanh của chúng ta” - chuyên gia Nguyễn Tuấn Việt phân tích.

Ngoài ra, sự an tâm được hình thành từ các yếu tố khác như: môi trường kinh doanh minh bạch hơn, quá trình số hóa quản lý thuế và truy xuất nguồn gốc, hạ tầng logistics ngày càng hoàn thiện, cùng với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và quan hệ hợp tác rộng mở với nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Chính những yếu tố đó đang tạo nên một “hiệu ứng truyền miệng” đặc biệt trong cộng đồng doanh nghiệp quốc tế. Một doanh nghiệp đến mua hàng rồi giới thiệu thêm đối tác. Một nhà nhập khẩu sau nhiều năm giao dịch quyết định mở văn phòng đại diện hoặc thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ một mắt xích ban đầu, chuỗi liên kết dần mở rộng và kéo theo những dòng đầu tư mới.

Trong thương mại quốc tế, có những chiến dịch quảng bá chỉ kéo dài vài ngày. Nhưng cũng có những lời giới thiệu được truyền đi trong nhiều năm và có sức nặng hơn bất kỳ bản quảng cáo nào. Với Việt Nam, chính cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động hiệu quả tại đây đang trở thành những “đại sứ” như vậy.

Lan tỏa niềm tin Việt Nam…

Sức mạnh lan tỏa của niềm tin còn tạo ra một hiện tượng ngoạn mục được chuyên gia Nguyễn Tuấn Việt chỉ ra: Trong những năm gần đây, khi tình hình địa chính trị thế giới biến động dữ dội, nhiều doanh nghiệp quốc tế đã chủ động chuyển dịch đơn hàng từ các quốc gia khác trong khu vực về Việt Nam vì đánh giá cao môi trường ổn định chính trị và sự điều hành thống nhất của Nhà nước.

Thậm chí, nhờ lợi thế vượt trội về hệ thống logistics và các FTA rộng mở, doanh nghiệp Việt Nam còn trở thành đầu mối xuất khẩu đối với hàng hóa có nguồn gốc từ các nước láng giềng. Vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực theo đó đã được nâng lên một tầm cao mới. Không phải ngẫu nhiên mà sau một thời gian hợp tác thương mại, nhiều doanh nghiệp nước ngoài quyết định mở rộng đầu tư, xây dựng nhà máy hoặc đưa thêm các đối tác trong chuỗi cung ứng của mình đến Việt Nam.

Có thể nói, khi một doanh nghiệp quyết định đầu tư, họ mang theo nguồn vốn. Nhưng khi họ sẵn sàng giới thiệu Việt Nam với những doanh nghiệp khác, họ mang theo một tài sản còn giá trị hơn: niềm tin. Và khi niềm tin ấy tiếp tục lan tỏa từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, từ đối tác này sang đối tác khác, những doanh nghiệp nước ngoài đang hiện diện tại Việt Nam hoặc đang làm việc với Việt Nam sẽ không chỉ là nhà đầu tư, mà còn trở thành những “đại sứ” đặc biệt của môi trường đầu tư Việt Nam trên bản đồ kinh tế toàn cầu.

“Khi các doanh nghiệp nước ngoài truyền tai nhau rằng Việt Nam là một nơi “đất lành chim đậu”, môi trường sống tốt, con người thân thiện, xã hội ổn định và nền kinh tế phát triển nhanh, bản thân điều đó đã trở thành một “tín hiệu” bảo chứng tối cao cho môi trường kinh doanh của chúng ta” - chuyên gia Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc VietGo.

Hoàng Tú