Kinh nghiệm thực hiện các dự án điện gió ngoài khơi của PETROVIETNAM
Dù tại Việt Nam chưa có một dự án điện gió ngoài khơi nào được triển khai trên thực địa, nhưng nhờ kinh nghiệm quốc tế, PETROVIETNAM đủ sức thực hiện các dự án năng lượng này khi các dự án trong nước được triển khai.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển khoảng 6.000 – 17.032 MW điện gió ngoài khơi giai đoạn 2030 - 2035. Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) đóng vai trò quan trọng để hoàn thành mục tiêu trên.

Nhờ kinh nghiệm triển khai các dự án dầu khí trên biển, PETROVIETNAM sở hữu nhiều nguồn lực tương đồng với những gì ngành điện gió ngoài khơi đòi hỏi. Trong số này, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) giữ vai trò tiên phong, trực tiếp chuyển hóa năng lực EPC công trình biển thành năng lực EPC công trình điện gió ngoài khơi.
Đại diện PETROVIETNAM cho rằng, nền tảng dầu khí mới chỉ là điều kiện cần. Bước chuyển sang điện gió ngoài khơi được hình thành sau một thời gian dài PETROVIETNAM và PTSC tìm tòi hướng phát triển mới, nhận diện cơ hội của quá trình chuyển dịch năng lượng. “Yếu tố quyết định nằm ở sự thay đổi trong nhận thức và tư duy phát triển, dám nghĩ dám làm, sự sâu sát và cam kết của lãnh đạo, cùng những quyết định đúng lúc về chiến lược, nhân sự và đầu tư”, đại diện PETROVIETNAM cho hay.
Thực tế, PTSC đã có nhiều kinh nghiệm trong việc hợp tác phát triển các dự án điện gió ngoài khơi với đối tác quốc tế. Cụ thể, dự án Greater Changhua 2b&4 (CHW2204) là minh chứng nổi bật. Theo hợp đồng với Ørsted, PTSC thực hiện thiết kế, mua sắm, chế tạo và cung cấp 33 chân đế cho dự án điện gió ngoài khơi công suất 920 MW tại Đài Loan (Trung Quốc). Tổng khối lượng sản phẩm gần 80.000 tấn được tổ chức chế tạo hàng loạt từ Bắc vào Nam trong đó các công việc chính được thực hiện tại Vũng Tàu và hoàn thành nghiệm thu kỹ thuật trong năm 2025.
Với quy mô chưa từng có, dự án buộc PTSC phải đồng thời kiểm soát tiến độ của hàng chục sản phẩm, bảo đảm tính đồng nhất về chất lượng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất của công trình biển và điều phối liên tục các công việc của dự án như vật tư, mặt bằng, nhân lực cùng các nhà thầu trong chuỗi, đặc biệt là công tác an toàn với hơn 10 triệu giờ lao động an toàn tuyệt đối trên công trường.
“Giá trị của CHW2204 mang lại không chỉ ở con số gần 350 triệu USD doanh thu hợp đồng, mà còn là cơ hội việc làm, nâng cao tay nghề cho hơn 3.000 lao động trong khoảng hai năm, cùng gần 100 nhà thầu, nhà cung cấp trong nước được huy động”, PETROVIETNAM cho hay.
Năng lực thực hiện các trạm biến áp điện gió ngoài khơi (OSS) của PTSC cũng được phát triển qua một chuỗi dự án cho các đối tác quốc tế. Hai Long 2 và Hai Long 3 là 2 OSS đầu tiên mà PTSC M&C phối hợp Semco Maritime thực hiện cho dự án tại Đài Loan (Trung Quốc). Đây là các dự án giúp PTSC tích lũy thêm kinh nghiệm tích hợp thiết bị, kiểm tra, chạy thử và phối hợp nhiều chuyên ngành trên cùng một công trình OSS. Năng lực đó tiếp tục được mở rộng trong danh mục các dự án mà PTSC tham gia. Đến nay con số PTSC đã thực hiện được nâng lên 10 OSS cho các thị trường châu Á và châu Âu.
Nổi bật gần đây nhất là bốn OSS của Dự án Baltica 2, điện gió ngoài khơi công suất khoảng 1,5 GW do Ørsted và PGE phát triển tại Ba Lan. Trong liên danh Semco Maritime - PTSC M&C, kinh nghiệm thiết kế, mua sắm của Semco Maritime được kết hợp với năng lực thiết kế chi tiết, mua sắm, chế tạo, lắp đặt, tích hợp, kiểm tra và chạy thử của PTSC M&C tại Vũng Tàu. Bốn trạm có tổng khối lượng khoảng 16.000 tấn được triển khai song song trong khoảng 17 tháng, với hơn 2.000 người làm việc ở thời điểm cao nhất.
Theo PETROVIETNAM, Baltica 2 đặt PTSC trước một bài toán quản trị có độ phức tạp cao. Cụ thể, bốn công trình cùng đi qua nhiều công đoạn trên một mặt bằng sản xuất, hàng nghìn nhân sự và khối lượng lớn vật tư, thiết bị phải được điều phối đồng bộ, trong khi mọi giao diện giữa các hệ thống, chuyên ngành và đối tác đều được kiểm soát chặt chẽ.
Bên cạnh tiến độ là những yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường châu Âu về an toàn, chất lượng, sơn bảo vệ, hồ sơ bàn giao và tuổi thọ công trình. Dự án đang ở trong chiến dịch load-out sau 17 tháng thi công tuyệt đối an toàn, cho thấy năng lực EPC của PTSC đã được minh chứng bằng những sản phẩm hoàn chỉnh, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
“Các dự án kể trên đã đưa các sản phẩm EPC điện gió ngoài khơi mang dấu ấn PETROVIETNAM hiện diện tại những dự án lớn ở châu Á và châu Âu”, PETROVIETNAM thông tin.

Theo PETROVIETNAM, bên cạnh những hợp đồng EPC cung cấp chân đế hay trụ tua-bin, đơn vị còn mở rộng cung cấp hàng loạt các dịch vụ kỹ thuật khác cho ngành điện gió ngoài khơi, như các hợp đồng khảo sát địa hình, địa chất, thu thập dữ liệu gió, hải văn và môi trường biển cho các khách hàng như Enterprize Energy, REE; các hợp đồng cung cấp tàu kéo và sà lan vận chuyển cho các dự án điện gió ngoài khơi tại Đài Loan (Trung Quốc)…
“Thành công bước đầu ấy được tạo nên bởi tổng hòa của nền tảng EPC công trình dầu khí, năng lực tổ chức sản xuất, đầu tư đúng thời điểm, lựa chọn đúng con người và sự cam kết xuyên suốt của lãnh đạo doanh nghiệp”, đại diện PETROVIETNAM đánh giá và cho rằng, chính nền tảng đó đã đặt PETROVIETNAM/ PTSC vào vị thế thuận lợi để tiếp tục tham gia thị trường EPC toàn cầu, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, sẵn sàng đảm nhận những vai trò lớn hơn khi các dự án điện gió ngoài khơi trong nước được triển khai.
Theo Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC), Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi, với khoảng 600 GW. Phần lớn là điện gió móng cố định vì thềm lục địa khá nông, giúp chi phí đầu tư thấp hơn so với các nước phải dùng móng nổi như Hàn Quốc, Nhật Bản.