Kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá- hiệu quả và thách thức

So với các ngành, ngành VHTT không có nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh. Ngoài bảo đảm việc làm, thu nhập và các quyền lợi chính đáng cho người lao động, khối doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp kinh tế của ngành cũng đứng trước thách thức trong cơ chế thị trường. Trong quá trình ấy, sự chuyển đổi mô hình, phương thức hoạt động của các đơn vị còn thể hiện khả năng thích ứng của văn hoá khi đi vào kinh doanh.

Và ngay cả những đơn vị được xem là “ổn định”, vẫn chưa thấy hài lòng trong cuộc cạnh tranh lành mạnh nhưng không kém phần gay gắt.

Trước hết, ở lĩnh vực phát hành sách, việc Công ty Quảng cáo và Dịch vụ văn hoá mở Nhà sách Hải Hà thời điểm năm 2000-2001 là “cú hích”  cho cuộc cạnh tranh ngay trong cùng ngành và ở cùng một lĩnh vực sách, văn hoá phẩm. Sau những vướng mắc của việc cổ phần hóa dần được tháo gỡ, hoạt động của công ty tiếp tục duy trì mạng lưới phát hành sách cơ bản với 5 cửa hàng trong nội thành và 6 chi nhánh là các nhà sách  ở thị trấn Cát Bà, các huyện Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, An Dương, Thuỷ Nguyên và quận Kiến an. Theo đó là thực hiện các chỉ tiêu về doanh thu. Đối với  Công ty cổ phần đầu tư và phát triển văn hoá Việt Nam (trước đây là Công ty Quảng cáo và Dịch vụ văn hoá), khi chuyển sang cổ phần hoá và đổi tên mới, Công ty có 42 tỷ đồng vốn pháp định (trong đó 70% vốn nhà nước). Đơn vị cũng có “nguồn lực” cơ sở vật chất đáng kể với 54 ha mặt bằng Trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế, một nhà sách, cơ sở nhà máy in cũ  của Sở VHTT...Số công nhân viên công ty lên tới hơn 400 người-  dồn lại từ các đơn vị làm ăn không có hiệu quả buộc phải giải thể hoặc sáp nhập trong ngành VHTT. Chuyển đổi mô hình quản lý, đơn vị cũng đồng thời thực hiện đa phương thức  trong hạch toán các lĩnh vực đáp ứng nhu cầu xã hội hơn là  chuyên ngành cụ thể. Ngoài  kinh doanh sách với địa chỉ quen thuộc Nhà sách Hải Hà khu vực nội thành, công ty  đang  nỗ lực chiếm lĩnh thị phần kinh doanh dịch vụ ảnh, in ấn, tổ chức hội chợ vui chơi giải trí và  kinh doanh ẩm thực. Tại cơ sở 2 Trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế đường Phạm Văn Đồng, xen giữa các hội chợ triển lãm thường niên là các hoạt động trên cơ sở khai thác quay vòng mặt bằng không gian trong và ngoài toà nhà chính. Khởi đầu của dự án Công viên Văn hoá Việt là bãi  trượt cỏ rộng 20.0000 m2. Đồng thời là khai thác dịch vụ giải trí  quy mô nhỏ như sân gôn trong nhà, truợt pa- tanh và một số dịch vụ giải trí.

Đối với Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng, việc 3  rạp  và 4 phòng chiếu phim được tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật là điều kiện thuận lợi  để đơn vị  thu hút khán giả, bảo đảm doanh thu. Thông qua mối liên hệ trực tiếp với các hãng phim, Trung tâm kịp thời khai thác nhiều bộ phim đáp ứng nhu cầu xem tại rạp của nhiều người. Sự nỗ lực của các đơn vị góp phần củng cố vị trí doanh nghiệp nhà nước  khi chuyển đổi phương thức hoạt động, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị, vừa bảo đảm   các tiêu chí văn hoá trong kinh doanh, dịch vụ văn hoá.

ở góc độ doanh thu, đơn vị thường xuyên vượt kế hoạch giao là Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật,  trung bình mỗi năm  doanh thu từ 700-800 triệu đồng. Công ty cổ phần phát hành sách doanh thu trên dưới 13 tỷ đồng; năm 2005 12 tỷ đồng, nộp ngân sách 350 triệu đồng;  6 tháng đầu năm 2006, đạt 7,4/14 tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2005. Phát hành phim và chiếu bóng năm 2005 đạt 2,1 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm nay doanh thu đạt 1,5 tỷ đồng (bằng 61% mức kế hoạch năm). Công ty cổ phần đầu tư và phát triển văn hoá Việt Nam, do vừa hoàn thành việc chuyển đổi mô hình hoạt động sang cổ phần hoá, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên doanh thu và nộp ngân sách không đạt  kế hoạch. Nếu  năm 2005, sự mới mẻ của các kỳ hội chợ ở  một địa điểm mới, quy mô sức chứa lớn  mang đến cho đơn vị  doanh thu 33, 626 tỷ đồng (đạt 81% kế hoạch năm), nộp ngân sách 754, 225 triệu đồng (đạt 93% kế hoạch năm) thì  năm 2006, doanh thu phấn đấu chỉ còn 30 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2006 mới được 12 tỷ đồng (đạt 40% mức kế hoạch) trong khi về mặt loại hình kinh doanh có vẻ  đa dạng hơn năm trước. Lý giải cụ thể hơn về  nghịch lý này, có ý kiến cho rằng không thể phủ nhận  gánh nặng chi phí mà đơn vị  buộc phải chấp nhận  trong quá trình đa dạng hoá loại hình sản xuất, kinh doanh, trong đó có chi phí “nuôi” toà nhà “cánh diều”.

Cơ chế thông thoáng trong kinh doanh của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh doanh dịch vụ văn hoá phát triển, nhưng là sự phát triển trong cuộc cạnh tranh gay gắt. Chỉ riêng về phát hành sách, Nhà sách Tiền Phong trong khu vực Nhà thiếu nhi thành phố, các nhà sách tư nhân vừa có thị phần tiêu thụ, vừa là “đối thủ” của các nhà sách Hải Hà, các cửa  hàng trong Công ty Cổ phần phát hành sách Hải Phòng. Còn đối với phim, sự nhanh chân phủ sóng của truyền hình cáp và truyền hình kỹ thuật số cũng như nạn băng đĩa lậu làm chậm lại việc chiếu các bộ phim được các nhà cung cấp đủ, nhiều, nhưng hạn chế sức hấp dẫn tại các rap. Người ta trông mong vào sự  vươn dậy mạnh mẽ của “toà nhà cánh diều” và Công ty đầu tư  và phát triển văn hoá Việt Nam. Nhưng nhìn chung hoạt động kinh doanh của  các đon vị VHTT  còn  nhiều khó khăn. Và trong khó khăn ấy, vẫn còn khoảng trống khi nói đến việc Hải Phòng không có được cơ sở sản xuất băng đĩa  mà lẽ ra phải có từ lâu. Đây cũng được xem là những thách thức  trong sản xuất kinh doanh của văn hoá Hải Phòng.