Khủng hoảng quản trị toàn cầu
Khủng hoảng tài chính toàn cầu, những biến động về giá cả năng lượng và lương thực trên thế giới, bệnh dịch, thiên tai, biến đổi khí hậu, nạn khủng bố, cướp biển Somali và nhiều vấn đề khác tiếp tục là những ám ảnh và vấn đề nan giải của thế giới năm 2008.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu, những biến động về giá cả năng lượng và lương thực trên thế giới, bệnh dịch, thiên tai, biến đổi khí hậu, nạn khủng bố, cướp biển Somali và nhiều vấn đề khác tiếp tục là những ám ảnh và vấn đề nan giải của thế giới năm 2008.
Bên cạnh trách nhiệm của chính phủ các nước liên quan, một nguyên nhân khác đằng sau những thách thức nan giải đó là sự yếu kém về năng lực quản trị toàn cầu mà các tổ chức quốc tế và khu vực đóng vai trò đi đầu. Thực tế năm qua cho thấy nhiều tổ chức khu vực và quốc tế thể hiện vai trò mờ nhạt trong việc giải quyết những thách thức toàn cầu ngày càng tăng lên về mức độ trầm trọng và quy mô trong khi thế giới ngày nay đã khác trước trên nhiều phương diện.
Thứ nhất, dân số thế giới đã tăng lên nhanh chóng từ 2,3 tỷ năm 1945 lên gần 7 tỷ năm 2008 và có khả năng tăng lên gần 10 tỷ vào năm 2050. Sự tăng lên nhanh chóng về dân số thế giới đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với các thiết chế quốc tế cả về nguồn lực, mức độ phức tạp, quy mô của các vấn đề toàn cầu cần giải quyết.
Thứ hai, sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và quá trình toàn cầu hóa ngày càng phát triển giữa các nước đặt ra nhiều vấn đề toàn cầu phải giải quyết như dịch bệnh, thiên tai, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, di cư bất hợp pháp v.v...Đáng chú ý là nhiều vấn đề toàn cầu có mối quan hệ tương quan lẫn nhau, đặt ra thách thức xử lý đối với các thiết chế quốc tế. Một thiết chế quốc tế nếu chỉ tập trung vào một vấn đề toàn cầu mà không tính đến tác động của các vấn đề toàn cầu khác liên quan thì sẽ không đạt được nhiều kết quả.
Thứ ba, tương quan lực lượng giữa các nước cũng thay đổi nhanh chóng trên thế giới. Bên cạnh các cường quốc như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nền kinh tế đang nổi lớn khác (Nga, Braxin, Mexico, Nam Phi...). Đấy là chưa kể đến sự nổi lên của các chủ thể khác như các tổ chức phi chính phủ và công ty đa quốc gia ngày càng có tiếng nói quan trọng trong các vấn đề toàn cầu mà các tổ chức quốc tế quốc tế phải tính đến trong quá trình hoạch định chính sách và xử lý các vấn đề toàn cầu. Sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa các nước và sự xuất hiện của các chủ thể phi nhà nước trong quan hệ quốc tế tạo sức ép đối với các tổ chức quốc tế phải tăng cường hơn nữa tính trách nhiệm, tính đại diện và dân chủ trong cách điều hành và giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Trong khi đó, các thiết chế khu vực và toàn cầu tỏ ra chậm chạp trong việc thích ứng với thế giới hiện nay. Liên Hợp quốc, Qũy Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới và các ngân hàng phát triển khu vực và Hội nghị thượng đỉnh G8 ở mức độ khác nhau hoạt động phân tán, kém hiệu quả và đang mất đi tính phù hợp trong hoạt động của mình. Tính phù hợp của họ càng bị giảm sút thêm bởi hai nhân tố. Trước hết là sự kém hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu từ việc thúc đẩy vòng đàm phán Doha, giải quyết các bất cân đối tài chính toàn cầu, vấn đề nóng lên của trái đất đến các điểm nóng và xung đột chết người. Thứ hai, quá trình cải cách hầu hết các thiết chế toàn cầu diễn ra chậm chạp mặc dù có nhiều nỗ lực cải cách các tổ chức này. Do đó, hệ thống quốc tế mà chúng ta chứng kiến ngày hôm nay là một tập hợp các thiết chế quốc tế được thiết lập để giải quyết các vấn đề chuyên biệt mà thiếu phối hợp trong một tầm nhìn chung, mang tính chiến lược để tạo ra sự kết nối và thống nhất để giải quyết các vấn đề toàn cầu một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, sẽ là không công bằng nếu chỉ quy trách nhiệm hoàn toàn cho các tổ chức quốc tế trước sự thật bại của họ trong việc xử lý các vấn đề toàn cầu. Trách nhiệm thuộc về các quốc gia thành viên, trước hết là các nước lớn. Một ví dụ rất rõ về một tổ chức lớn cần cải cách là Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc, một tổ chức mà thành phần thành viên thường trực thể hiện cấu trúc quyền lực của năm 1946 chứ không phải năm 2009. Mặc dù vậy, một số nước lớn là thành viên của Hội đồng Bảo an không chấp nhận việc mở rộng tổ chức này để kết nạp thêm các cường quốc khác tham gia như Nhật Bản, Đức, Ấn Độ, Brazil...Với tương quan lực lượng đã thay đổi rất nhiều trong hơn 60 năm qua thì một Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc gồm chỉ có 5 cường quốc quyết định mọi vấn đề hòa bình và chiến tranh của thế giới thì không phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Nhiều tổ chức khác cũng thể hiện sự bất bình đẳng như vậy. Người đứng đầu Ngân hàng Thế giới thường có quốc tịch Mỹ trong khi Quỹ Tiền tệ quốc tế thường có giám đốc là người Châu Âu. Trong khi đó các nước Châu Á với hơn 3,5 tỷ người và đóng góp hơn một nửa GDP thế giới thì chưa bao giờ có đại diện đứng đầu của các tổ chức có uy tín và lớn nhất thế giới này. Nếu những tổ chức này không thể hiện lợi ích của các nước đang phát triển với ảnh hưởng ngày càng tăng thì các nước đang phát triển có thể coi những quyết định của các tổ chức phương Tây là này không hợp pháp và chỉ đem lại lợi ích cho các nước phương Tây. Tóm lại, nỗ lực cải thiện năng lực quản trị toàn cầu thành hay bại sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ mà các nhà lãnh đạo của các cường quốc “cũ” sẵn sàng tạo cho các cường quốc “mới” và các nước đang phát triển một tiếng nói bình đẳng và có trọng lượng hơn trong việc quyết định các vấn đề toàn cầu.
Nguồn: VnMedia