Khủng hoảng kinh tế và văn hóa

Thông thường, văn hóa luôn luôn là một trong những nạn nhân đầu tiên của khủng hoảng kinh tế. Xưa đã thế và hiện nay cũng thế.

Thông thường, văn hóa luôn luôn là một trong những nạn nhân đầu tiên của khủng hoảng kinh tế. Xưa đã thế và hiện nay cũng thế.

Những họa sĩ bị cắt bỏ hợp đồng đột ngột. Những tờ báo phải đóng cửa, thậm chí ngay trước ngưỡng cửa của lễ kỷ niệm 150 năm tồn tại. Những dự án điện ảnh phải bỏ dở và những khoản thù lao bị cắt xén nghiêm trọng ngay cả đối với các siêu minh tinh. Những chương trình live-show không thể trở thành hiện thực… Thậm chí ngay cả ngân sách đã định dành cho các chương trình hỗ trợ văn hoá lớn cũng bị xóa sổ. Thông thường, văn hóa luôn luôn là một trong những nạn nhân đầu tiên của khủng hoảng kinh tế. Xưa đã thế và hiện nay cũng thế. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đối với văn hóa không chỉ hạn chế ở những hiện tượng vừa nêu.

Khủng hoảng kinh tế và văn hóa
"Đại suy thoái" trong nền kinh tế mỹ những năm 30 của thế kỷ trước
đã tạo cơ hội cho nữ diễn viên nhí Shirley Temple và nhân vật chuột
Mickey trở nên thịnh hành tột bậc.

Học giả David Throsby trong cuốn sách "Kinh tế và văn hóa" (Economics and Culture) chứng minh rằng, trong hàng loạt trường hợp khủng hoảng kinh tế đã dẫn tới sự xuất hiện của những kiệt tác đích thực.

Có một thí dụ điển hình như thế trong câu chuyện của kiến trúc sư Frank Lloyd Wright. Ở thời điểm đầu "Đại suy thoái" tại Mỹ, Wright đã là một chuyên gia khá nổi tiếng trong công việc của mình, nhưng sau khi khủng hoảng bắt đầu, ông đã bị ngồi chơi xơi nước không có việc gì làm cả trong suốt mấy năm liền. Thế nhưng rồi ông lại nhận được đơn đặt hàng làm một số nhà tư mà trong đó, có những ngôi nhà đã được liệt vào hàng kiệt tác của kiến trúc thế giới. Cũng chính trong giai đoạn đó Wright đã quan tâm tới việc xây dựng hàng loạt những căn hộ không đắt tiền và đã thiết kế hàng loạt những công thức thú vị.

Khủng hoảng kinh tế cũng tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ tới các khía cạnh khác nhau của thời trang. Đã được chứng minh từ lâu mối liên hệ mật thiết giữa độ dài của váy phụ nữ và thực trạng nền kinh tế. Yếu tố này lần đầu tiên bộc lộ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi phụ nữ bắt buộc phải thắt lưng buộc bụng, dẫn tới việc giảm thiểu lượng vải may váy và rốt cuộc là mốt váy mini xuất hiện.

Nhà nghiên cứu Victoria Sherrow, tác giả của cuốn sách "Bách khoa toàn thư tóc. Câu chuyện văn hóa" (Encyclopedia of Hair: A Cultural History), nhận xét rằng, độ dài của mái tóc phụ nữ Mỹ tỉ lệ thuận với thực trạng nền kinh tế và thích ứng với nếp sống cần phải có của con người. Lịch sử thế kỷ XX cho thấy, trong những giai đoạn khó khăn kinh tế (trong tuyệt đại bộ phận các trường hợp nhưng không nhất thiết lúc nào cũng như thế), phổ biến nhất là những mái tóc cắt ngắn, còn trong những năm ăn nên làm ra - những mái tóc dài. Bà Sherrow lý giải nguyên do là ở chỗ: Những mái tóc để dài thì chăm sóc mất công và tốn kém hơn.

Nữ tác giả Kathy Peiss trong cuốn sách "Hy vọng ở trong hộp. Sự hình thành văn hóa nhan sắc Mỹ" (Hope In A Jar: The Making of America's Beauty Culture) phân tích lịch sử của các hãng mỹ phẩm Mỹ. Nhiều hãng mỹ phẩm đã ra đời chính trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Thông thường, thành công của những công ty này thường dựa trên sự liên hợp của hàng loạt những yếu tố. Trong thời gian diễn ra khủng hoảng kinh tế, phụ nữ buộc phải tiết kiệm nên giảm bớt hoặc ngừng không tới những thẩm mỹ viện và thôi mua những mỹ phẩm đắt tiền. Và họ tự chăm sóc mình theo những  công thức riêng và nghĩ ra đủ thứ kem bôi mặt tự tạo có thể làm lấy được trong điều kiện gia đình. Một số công thức có vẻ như nghiệp dư ấy lại được ưa chuộng rộng rãi và đôi khi từ chúng đã sinh ra những "đế chế mỹ phẩm" mới.

Một công trình nghiên cứu của Trường Đại học Tổng hợp Ohio đã phát hiện ra thêm một khía cạnh đáng lưu ý nữa của khủng hoảng kinh tế. Các chuyên gia đã phân tích các người mẫu tiêu biểu trong năm của tạp chí Playboy trong giai đoạn từ 1960 tới 2000. Hoá ra là, khi nền kinh tế Mỹ gặp khó khăn, Playboy đặt trọng tâm vào việc công bố những bức ảnh các cô gái nhìn có vẻ già dặn hơn, gầy hơn và có các số đo nhỏ hơn. Tức là tạp chí chọn những người mẫu tiêu biểu theo đúng dạng mà độc giả của nó cho là hợp thời.

Còn có một trong những hệ quả của khủng hoảng kinh tế ở Mỹ là, theo truyền thống, các loại sách nghiêm túc về kinh tế, lịch sử và phổ biến kiến thức được bán chạy hơn. Thống kê số sách bán ra của hệ thống phát hành lớn Barnes & Nobles ở Mỹ cho thấy, trong nửa cuối của năm 2008, nhập vào danh sách những tác phẩm best-seller là các cuốn sách viết về giai đoạn "Đại suy thoái" và các công trình của các nhà kinh tế học tư vấn về quản lý tài chính cá nhân và đưa ra những dự đoán dài hạn về triển vọng phát triển kinh tế. Ngoài ra, các cuốn sách giáo khoa cũng được mua nhiều đột biến - người Mỹ có vẻ như đang bắt đầu tự nâng cao trình độ của mình và trong nhiều trường hợp hướng tới việc tìm kiếm chuyên môn mới.

"Đại suy thoái" trong nền kinh tế Mỹ những năm 30 của thế kỷ trước đã tạo cơ hội cho nữ diễn viên nhí Shirley Temple và nhân vật chuột Mickey trở nên thịnh hành tột bực.

Khủng hoảng tài chính thông thường cũng ảnh hưởng mạnh tới điện ảnh. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã bắt đầu trong năm 2008, nhưng theo đánh giá của Hiệp hội các chủ rạp toàn quốc, trong năm 2008 đã bán được số lượng kỷ lục vé xem phim. Những người yêu điện ảnh ở Anh, Pháp, Canada, Đức... cũng có cách phản ứng tương tự như thế đối với khủng hoảng kinh tế - đời thực càng khó khăn, càng hướng tới thế giới ảo trên màn ảnh!

Đây không phải là thí dụ duy nhất như thế. "Đại suy thoái" bắt đầu từ năm 1929, nhưng tới năm 1930, các xưởng phim ở Mỹ đã có mức doanh thu kỷ lục (thông thường điều này được lý giải bằng việc ngay cả những người đang rất túng bấn cũng muốn quên đi thực tại khó khăn và chấp nhận bỏ tiền ra mua vé xem phim). Thế nhưng, tới năm 1931, ngành điện ảnh Mỹ đã vấp phải khó khăn: số lượng khán giả bắt đầu giảm… Hiệp hội các chủ rạp toàn quốc ở Mỹ đã tiến hành phân tích chi tiết các số liệu khán giả xem phim của những năm cuối thập niên 1970. Qua đó, có thể thấy, trong năm đầu tiên của khủng hoảng kinh tế, số lượng khán giả đi xem phim tăng lên nhưng trong những năm tiếp theo sẽ suy giảm, đôi khi rất mạnh, cho tới khi lại bắt đầu một chu trình gia tăng kinh tế mới.

Nguồn CAND