Khúc hoài niệm sông Hậu

Truyện ngắn của  Nguyễn Thế Hùng

Tôi vội vã sắp xếp công việc ra cồn thăm ông. Chắc có chuyện gì gấp lắm ông mới nhắn tôi ra. Có thể đây là lần cuối cùng tôi và ông nhâm nhi ly đế với mấy con khô kèo trải trên mặt thiên ngôi mộ xây ở Cồn Thương. Sở dĩ tôi nghĩ lần cuối vì xem đài, báo thấy  dự án cầu Cầm Thi sẽ chạy qua Cồn Thương- Cái tên ông đặt vậy chứ sự thực nó là cái cồn gì tôi cũng không biết - Cồn Thương nhỏ như trái bưởi nổi bồng bềnh giữa dòng sông Hậu. Và một mố cầu thế kỷ sẽ đáp lên trái bưởi đó. Cồn thì nhỏ, cầu thì to  ông phải dời vô bờ là cái chắc.

Ghe chạy chưa đầy nửa tiếng đã ghé cồn. Mới bước lên bờ, đập vào mắt tôi vẫn là ngôi mộ và dáng  ngồi muôn thuở của ông. Phía trên chạc cây mận, ngọn đèn bốn mặt vẫn liu riu cháy giữa ban ngày. Ông  già như không thể già hơn được nữa. Vẫn dáng ngồi chồm chồm chân co chân duỗi, một tay gác lên thành mộ xây, một tay hờ hững cầm ly rượu. Cầm để mà cầm, cầm mà hồn như đang hướng về một nơi nào xa lắm.

- Uống với qua ly. Ừ! Rồi rượu hết thì bình khô cạn, qua cũng cạn khô quắt khô queo, rồi đèn này nữa, nó cũng sắp tắt. Cái Cồn Thương này…   

- Một mố cầu sẽ đáp xuống đây, cây cầu vĩnh cửu hiện hình. Có bê tông cốt thép cồn sẽ không còn trôi, ông cũng đỡ phải kè, phải đắp…

      - Qua biết, kè đắp mãi sao được, sức người có hạn, nhưng mấy bữa  rày qua xin hoài mà cổ chưa chịu, cổ muốn nằm ngoài này mát hơn.

Ông nhìn tôi rồi lại nhìn ngôi mộ, ngôi mộ trông cũng  già như ông. Hai chúng tôi lại chìm vào yên lặng.                                                            

                                                                  #

…Qua kêu chú ra đây là có chút việc muốn nhờ - Trầm ngâm cả tiếng đồng hồ rồi ông bắt đầu nói - Cồn này vốn người ta kêu là cồn Tàu Chìm. Nghe nói trước ở đây không có cồn lục chi hết, ngày ta đánh tây, cả tàu ta, tàu tây chìm. Xác tàu, xác người cản nước, tụ cát lâu thành cồn. Nhưng cứ mỗi mùa nước, cồn lại lở mạn trên và trôi về xuôi một ít, trông cồn cứ như giọt lệ xanh giữa sông bạc. Cồn trôi, vì vậy chỗ tàu chìm chắc không còn là ở đây. Ngày qua còn nhỏ, cồn vốn không có người ở. Rồi đến một ngày. Buổi sáng bọn qua mới vô học tiết đầu thì cả trường được thông báo nghỉ và có tàu chở ra cồn coi tây bắn người. Hôm đó  mấy đứa con gái bịt mắt không dám nhìn, con trai có đứa đái ra quần. Còn qua, qua nhớ mãi cái buổi sáng hôm đó, mười lăm người, trong đó có hai chị đang mang bầu, bị tây trói quặt cánh khủyu vào mười lăm chiếc cọc, mặt hướng vô cồn, lưng hướng ra sông. Bọn  qua cũng hàng ngũ chỉnh tề đứng đối diện. Trong mười lăm người đó qua nhận ra một người quen, chú Mười Dung chạy xe kéo. Chẳng lẽ chú Mười lại là kẻ phá hoại!? Chú Mười nói giọng miền ngoài, hiền khô, thỉnh thoảng về xóm, chú còn cho mấy đứa nhỏ kẹo mút, tò he. Qua đang ngẩn người nhìn chú Mười thì bỗng chú lên tiếng: “Hỡi đồng bào, đồng bào hãy nhìn cho rõ, nhớ cho kỹ ngày hôm nay, súng bắn vào chúng tôi là súng Tây, chỉ huy người bắn chúng tôi là người Tây… Hỡi các em học sinh hãy nhớ lấy mà tìm đường đi cho đúng…Súng Tây không đủ nhiều để bắn hết dân Nam đâu…các em hãy tiếp…bước…” Chú Mười nói nhanh như sợ không kịp. Mà đúng là không kịp, hình như chú đang muốn nói thêm nữa nhưng đạn đã nổ, tiếng trẻ con rú lên, rồi chúng bỏ chạy tán loạn, hình như miệng chú Mười vẫn đang nhép nhép, nhưng tiếng náo loạn nên không ai còn nghe được gì. Không nghe được cả tiếng rú của người mẹ trẻ trong cơn đau sinh nở, cơn đau mất chồng. Tiếng khóc oa oa chào đời cũng là tiếng khóc cha của một sinh linh mới chào đời. Khi tạm thời dẹp được trật tự thì mười bốn cái đầu đã gục xuống. Lạ! Chỉ có chú Mười là ngửa ật cổ ra sau, đầu dựa vào cột, mắt vẫn mở trừng trừng, trong phút cuối liệu chú có kịp nghe tiếng con khóc…?

Khúc hoài niệm sông Hậu
  Minh họa: Đặng Tiến

Già Tám ngừng kể, nét mặt ông không thay đổi là mấy, nhưng tôi biết trong hồn ông đang xao động.

…Đừng trách qua dài dòng, chuỵên này qua nghe nói họ có ghi vô trong sách sử. Sách thì cần đó, nhưng không phải ai cũng đọc được sách, có người biết, có người không biết, có người đọc được chữ, cũng có người không. Mười lăm người thành mười bảy, hai người đang mang bầu mà. Tây nó cắt dây, đạp xuống sông Hậu, máu loang đỏ cả một vùng, lúc sau, máu trộn với phù sa chảy xuôi. Ở cồn về, lớp qua có mười đứa được giác ngộ, trong đó  có qua và Thương. Cổ con nhà đài các lắm, cứ nghĩ khó mà hoạt động, vậy mà cổ làm việc gì cũng khá. Sau một vài lần bị bắt lên bót, tụi qua bị đuổi học hết, riêng Thương nhờ con nhà gia thế nên vẫn được học. Chiều nào cũng vậy, qua đón Thương nơi cổng trường, trong cặp sách, sau làn áo dài trắng của Thương khi thì lựu đạn, khi thì thuốc nổ. Cứ vậy hai đứa chở nhau nhàn tản đi bát phố, khi thì quẳng vũ khí vô thùng rác bên đường, khi thì quẳng lên xích lô của một người không quen biết. Nhưng qua biết, tất cả đều đến đích. Vì thỉnh thoảng lại có tin một tên ác ôn bị giết khi đang du hý. Dăm bữa, nửa tháng, đêm người thành phố lại bị dựng dậy bởi những tiếng nổ lớn. Hai đứa qua được kết nạp đoàn ngay tại Cồn Thương này. Và đáng lẽ đám cưới cũng diễn ra ở đây…

Lần này già Tám trầm ngâm lâu hơn, tôi chỉ sợ già không kể nữa, bởi từ ngày biết ông đến giờ, đây là lần đầu tiên ông kể về mình, về cô Thương và về những hoạt động của họ. Và tôi biết ông kêu tôi ra đây là để nhờ, để gửi gắm một chuyện gì đó chắc là  thiêng liêng, to lớn lắm, hệ trọng đến cả cuộc đời ông ông mới dốc lòng, mới dẫn giải với tôi nhiều như vậy. Già Tám vẫn ngồi im lìm, sóng sông Hậu vỗ vào bờ óc ách, thỉnh thoảng một vài vai đất lở xuống sông ùm ùm. Tôi biết từ ngày già Tám tuyên chiến với dòng sông, cồn không còn trôi nữa. Tôi biết cuộc chiến đấu không cân sức nhưng cuối cùng già Tám đã chiến thắng. Bước xâm thực của sông phải dừng trước mộ cô Thương cả chục mét. Ngày trước nghe nói mộ cô ở phía cuối cồn. ..

…Ừ! Đi riết với nhau rồi thương nhau hồi nào không hay - Già Tám như nói một mình - Giờ già rồi kể chuyện tình yêu nó kỳ. Thú thực ban đầu qua không nghĩ là cổ thương qua đâu, con gái họ kín lắm. Chỉ đến khi tổ của qua đánh đồn Tạ, trận đánh đã hết biết, gần như xoá sổ hoàn toàn bọn ác ôn. Nhưng trên đường rút bọn qua bị chặn. Qua với cổ chạy một hướng, chúng rượt rát quá, qua bắn cầm chân cho cổ chạy, cuối cùng qua bị bắt. Qua bị nhốt gần ba năm, tháng nào cổ cũng vô thăm nuôi, khi đó qua mới biết cổ thương qua lâu rồi. Già Tám kéo chân phải lên cho tôi xem rồi kể tiếp. Ngày qua được thả, cái chân này đi lết, nó đánh hiểm quá mà. Biết vậy nhưng cổ vẫn thương. Qua không còn ở tổ diệt ác được nữa. Luây quây ký ức xưa hiện về, cồn Tàu Chìm hiện về. Và hình như chú Mười Dung luôn đi theo chỉ đường cho qua vậy. Qua bàn với tổ chức và tổ chức đồng ý. Qua ra cồn sống một mình. Ngày cũng như đêm thắp lên ngọn đèn bốn mặt này. Hễ qua báo yên là giác gần sáng, tổ diệt ác lội ra ngủ bù. Đó - già Tám chỉ tay về phía mấy cái lu đại sắp bên chái lều -  mười mấy cái lu đó xưa qua làm hầm, khi có động anh em rút tạm xuống ngồi trong lu, hết động lại trải nóp xuống đất mà nằm, qua ngồi canh. Cũng có khi ngày qua chèo xuồng qua lại bờ mấy lượt, tiện thể giăng câu thả lưới, được mớ cá mớ tép lên chợ bán lấy tiền mua gạo mua mắm, cái chính là thu thập tin tức. Anh em ngủ kỹ, ăn no, chờ tối lại vô bờ đến với những mục tiêu đã định trước. Những ngày như thế, qua với út Thương không mấy khi rời nhau. Qua bảo cổ ngủ lấy sức tối mà đi, cổ đâu chịu, cứ lắc xắc làm việc với qua hoài, nhiều khi qua sợ tụi nó phát hiện có người lưu cồn, qua vặc cổ mới chịu ngồi một chổ. Cũng có nhiều đêm, tụi nó đi tuần căng, qua phải quay mặt đèn đỏ báo động. Tay quay  mặt đỏ mà bụng không muốn chút nào. Qua muốn anh em ra, muốn Út ra.  Dạo đó Út đã thoát ly hẳn gia đình. Tổ chức cũng biết chuyện qua  với Út, ai cũng thương và muốn tác thành, chi bộ Đảng cũng đã đồng ý. Hai đứa chọn đêm cuối tháng sẽ làm đám cưới trên cồn. Nhưng đám cưới mãi không đến. Cổ chưa được làm vợ ngày nào đã phải ra đi…

Già Tám nhìn về hun hút bên kia sông. Nước vẫn hiền hoà chảy và con phà vẫn cần mẫn đạp nước đưa khách qua hai bờ. Phía xa nữa, những cần cẩu, sà lan và giàn búa máy đang đóng những chiếc cọc đầu tiên xuống lòng sông. Không bao lâu nữa, cầu Cầm Thi sẽ vươn đến Cồn Thương, vươn qua Cồn Thương để nối liền hai bờ thương nhớ. Tiếng phà đạp nước đêm đêm sẽ đi vào miền cổ tích. Và Cồn Thương sẽ không còn là Cồn Thương khi già Tám đưa mộ cô Thương vào nghĩa trang liệt sỹ thành phố. Rồi già Tám nữa, già  cũng sẽ vô bờ, sẽ nhận một ngôi nhà tình nghĩa nào đó. Và biết ai còn nhớ đây xưa là cồn Tàu Chìm, Cồn Thương?! Chắc nó sẽ có tên mới, cồn Mố Cầu chẳng hạn! Nhưng sao tôi vẫn muốn người đời giữ mãi tên Cồn Thương, nghe nó thương lắm, yêu lắm. Già Tám vẫn trầm ngâm ngồi, đến bây giờ già vẫn chưa nói với tôi việc cần nhờ. Rượu đã cạn tới đáy, khuôn mặt già Tám trông khi lạ khi quen, nhiều nét giống người trong cổ tích, trông gìa gần gũi lắm mà cũng xa cách lắm.

… Qua chuẩn bị bánh trái nhiều lắm, có cả bộ quần áo nhung cho cổ mặc trong lễ vu quy nữa đó. Trăm lần qua báo đều trúng, anh em đều vượt sông an toàn. Vậy mà đêm đó. Tụi nó rải người nhái. Qua không phát hiện ra. Anh em thấy qua báo yên. Rồi súng nổ. Anh em mình chủ yếu là súng ngắn, lại bất ngờ…

Giọng già Tám như nghẹn lại. Phải chăng nước mắt khóc đồng đội, khóc Út Thương mấy mươi năm chảy vào trong đã vón thành cục đằm sâu nơi tâm tưởng già Tám, nên mỗi khi xúc động, giọng già lại nghèn nghẹn như có nước. Già ngồi đó, đầu gục xuống, lưng còng như muốn ôm lấy ngôi mộ xây vào lòng. Và ngọn đèn bốn mặt vẫn sáng từ bấy cho đến nay. Ngọn đèn đã bao lần báo yên cho những đoàn quân vào ra thành phố. Ngọn đèn sau hoà bình vẫn sáng nhắc cho bao người, đã có một thời, những người con trung kiên đã sống, chiến đấu và hy sinh ở đây, ngọn đèn nhắc cho ai đã lầm lỗi, đang lầm lỗi và sắp sửa lầm lỗi xem lại mình và tự hỏi mình đã làm được gì cho Tổ quốc hôm nay.

…Sáng hôm sau, qua đem trái cây, hương hoa chuẩn bị cho đám cưới thả xuống dòng sông. Qua bơi xuồng  như người mộng du ngang dọc theo sông nhưng tuyệt nhiên không thấy xác một ai. Sáng ngày thứ ba, qua không thể tin vào mắt mình, một mình xác cổ  nổi dạt vô mé dưới của cồn. Ba ngày dưới nước vậy mà cổ vẫn đẹp, vẫn trắng, môi mọng như thoa son…Qua không nỡ chôn cổ xuống đất. Đến khi có người trong thành ra, họ mới giúp qua làm việc đó. Qua dài dòng quá phải không?! Đây chắc là lần đầu mà cũng là lần cuối qua kể mà. Ráng ngồi nghe, chiều người già chút  nhé. Còn việc qua muốn nhờ chú. Qua đã đắn đo kỹ, chỉ có chú mới làm được, chú là người cũng hay hoài cổ lắm. Người như vậy khổ nhưng cũng thú vị lắm chú ạ. Chứ sướng mà rỗng, nhạt thì chán lắm. Qua coi dự án rồi, coi cả thiết kế cầu nữa. Một mố sẽ đáp xuống đây, thế là vĩnh viễn Cồn Thương không còn trôi nữa, trước tới giờ qua đang lo, khi qua chết, giờ được vậy qua mừng. Còn việc này, chú đừng từ chối nhé, tất cả qua ghi trong này, chú có thể thêm bớt cho nó thẩm mỹ, còn đại ý là vầy, chú đọc coi được không?

Tôi mở tờ giấy già Tám đưa, trong đó chỉ có duy nhất một dòng chữ già Tám viết nắn nót: “Nhắn những ai đi trên cây cầu này hãy nhớ, dưới chân cầu bao người con trung kiên đã ngã xuống!” Già Tám nhìn tôi đọc và hy hóp chờ đợi. Tôi không biết có làm được việc già nhờ không, nhưng nhìn vào đôi mắt già, nghe già kể chuyện, tôi không nỡ từ chối. Già muốn khi cây cầu khánh thành, bằng uy tín và mối quan hệ của mình, tôi xin các cơ quan chức năng cho in hàng chữ này lên thành cầu, phía trên Cồn Thương. Tôi biết làm được việc này không phải là giúp già Tám mà giúp cho bao thế hệ con cháu nhớ về một thời máu lửa. Đây là bài học về truyền thống hết sức sâu sắc. Những bài học mà già Tám và thế hệ của già đã phải đổ bằng máu mới có được. Tôi cầm mảnh giấy ra về. Già Tám nhìn tôi tin tưởng. Mặt xanh của ngọn đèn bốn mặt quay về phía tôi báo hiệu bình yên…