Khu tái định cư Thanh Toàn, xã An Đồng (huyện An Dương)- Quá 3 năm, hàng trăm hộ dân vẫn không có hộ khẩu (kỳ cuối)

Có thể thấy hơn 100 hộ dân ở khu tái định cư thôn Cái Tắt, xã An Đồng sống trong cảnh “chờ hộ khẩu” là hơn 100 nỗi thiệt thòi, những hệ lụy khác nhau. Theo thống kê của Bộ Công an, hiện có khoảng 380 văn bản pháp quy liên quan đến sự cần thiết của hộ khẩu, trong đó có 6 văn bản luật. 

Phải chăng người dân đang nắm đằng lưỡi?

 

Có thể thấy hơn 100 hộ dân ở khu tái định cư thôn Cái Tắt, xã An Đồng sống trong cảnh “chờ hộ khẩu” là hơn 100 nỗi thiệt thòi, những hệ lụy khác nhau. Theo thống kê của Bộ Công an, hiện có khoảng 380 văn bản pháp quy liên quan đến sự cần thiết của hộ khẩu, trong đó có 6 văn bản luật.  Do đó, thật dễ hiểu sự lo sợ dẫn đến bức xúc của người dân khu  vực này khi chưa có được hộ khẩu trong tay. Trông chờ vào chính quyền là nguyện vọng chính đáng của họ.

 

Nhưng vì sao hơn 3 năm rồi mà hộ khẩu của dân vẫn cứ bị … treo? Để tìm câu trả lời, chúng tôi có buổi trao đổi với các cán bộ xã An Đồng. chính quyền  xã An Đồng. Thông tin đầu tiên là từ chỗ đang có hộ khẩu chính thức ở nơi ở cũ,  dời về xã mới họ chỉ được cấp giấy tạm trú thời hạn 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng. Lý do chung nhất chưa có hộ khẩu  là họ chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất! Chủ tịch UBND xã An Đồng Nguyễn Văn Toản cho biết: “Dân số xã An Đồng hiện có 22 nghìn khẩu với hơn 6 nghìn hộ, trong đó 5% là dân cư ở nơi khác chuyển đến. Do UBND phường Đông Khê chưa có văn bản pháp lý bàn giao con người nên chúng tôi không nắm được có bao nhiêu hộ dân được đưa về khu tái định cư thôn Cái Tắt. Nhưng theo đợt điều tra dân số vừa qua thì chúng tôi thống kê được 127 hộ. Số hộ này hầu hết thuộc dự án di rời ở phường Đồng Khê, khu Đình Đông và Đoàn Chèo Hải Phòng”.

 

Phó trưởng Công an xã Vũ Văn Hồng bổ sung: “Người dân ở khu tái định cư dường như không đến UBND xã. Họ chỉ tìm đến chính quyền địa phương khi cần như bắc điện, nước, báo tử… Đến nay mới có 3 trường hợp được nhập khẩu là hộ ông Nguyễn Thế Song, bà Trương Thị Hà và ông Nguyễn Ngọc Vị. Còn lại hầu hết số hộ dân chưa đủ điều kiện chuyển khẩu vì chưa có chỗ ở hợp pháp.  Còn lý  các  hộ dân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do chưa nộp hết tiền nợ đất cho bên dự án”.  Còn theo trưởng thôn Cái Tắt Trần Văn Lượng: “Chúng tôi đã lên kế hoạch thành lập riêng một tổ dân cư ở khu tái định cư nhưng rất khó quản lý vì họ đi làm ăn ở đâu đến đêm khuya mới về. Mặt khác đất ở khu tái định cư cũng bị mua đi bán lại nhiều lần nên không biết đâu mà lần. Theo đó, công tác quản lý nhân khẩu hộ khẩu, an ninh trật tự cũng gặp rất nhiều khó khăn. Vừa qua, chúng tôi đi điều tra dân số, nhà ở, có nhà đi đi lại lại đến 9 lần mới gặp họ…”.

 

Những lý giải của UBND xã An Đồng không sai và cũng thật đáng chia sẻ. Nhưng xem ra cách giải thích như vậy mới chỉ dừng ở mức “đạt lý” mà chưa “thấu tình”. Chung quanh các khía cạnh liên quan đến vấn đề hộ khẩu, tìm hiểu thêm chúng tôi được biết, về mặt quản lý nhà nước, những vướng mắc, phiền hà về điều kiện, thủ tục cấp sổ hộ khẩu cũng như sử dụng sổ hộ khẩu làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được khắc phục triệt để trong Luật cư trú. Theo Luật này, muốn có hộ khẩu thường trú thì phải có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú ở địa phương đó từ một năm trở lên. Điều kiện tạm trú tại địa phương một năm trở lên thì người dân khu tái định cư thôn Cái Tắt đã đủ bởi họ đã “tạm trú” ở đây hơn 3 năm rồi. Còn  chỗ ở hợp pháp thì theo điều 5, điểm a, Nghị định 107/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật cư trú, giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp là giấy tờ có xác nhận của UBND cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp nếu không có một trong số giấy tờ như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, đất ở, giấy phép xây dựng, hợp đồng mua bán nhà ở. Mà các hộ dân ở khu tái định cư thôn Cái Tắt, xã An Đồng đều có đơn xin chậm trả tiền quyền sử dụng đất, có phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu có xác nhận công an phường Đông Khê, sổ tạm trú do Công an xã An Đồng cấp, nghĩa là họ đáp ứng đủ các điều kiện về mặt thủ tục. Mặt khác, những người dân ở đây đều thuộc diện di rời nhằm phục vụ dự án theo chủ trương của thành phố. Do đó xét về mặt quyền và lợi ích hợp pháp của người dân theo tinh thần Luật cư trú có hiệu lực từ 1-7-2007 thì nguyện vọng của người dân trong việc nhập khẩu từ Đông Khê về An Đồng  là hoàn toàn chính đáng và có cơ sở…

 

Nhưng họ đã không được hưởng những “ưu việt ấy” bởi họ đang nắm “đằng lưỡi”. Nếu xét theo đúng trình tự như  phía UBND xã An Đồng nêu thì muốn có được xác nhận của UBND xã về việc nhà ở, đất ở không có tranh chấp thì phải có hộ khẩu. Vậy là người dân rơi vào vòng luẩn quẩn, muốn có hộ khẩu thì phải có chỗ ở hợp pháp mà muốn chứng minh chỗ ở hợp pháp thì phải có hộ khẩu. Đến nước này thì hàng nghìn người dân ở đây chỉ còn biết kêu trời và trông chờ vào sự “thấu tình” của chính quyền sở tại.

 

Không có hộ khẩu nghĩa là không thuộc quản lý của chính quyền địa phương, người dân không có tên trong danh sách cử tri bầu cử, thanh niên đến tuổi không được tham gia nghĩa vụ quân sự, không xin được việc làm, trẻ em không được khai sinh, nhiều gia đình nghèo không được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước, đăng ký cái xe máy mới mua cũng khó.. Song, tất cả những điều đó không đáng sợ bằng cảm giác người dân nơi đây đang bị bỏ quên.

 

Theo chúng tôi, đã đến lúc các cấp chính quyền, các chủ dự án vào cuộc khắc phục sớm tình trạng dân bị họ khẩu treo bằng trách nhiệm cao nhất, bằng tinh thần thực sự quan tâm đến mỗi số phận con người theo đúng nghĩa con người. Trước mắt kiểm tra những tắc trách về các thủ tục hành chính để sớm cấp hộ khẩu đối  với những trường hợp đã đủ thủ tục hồ sơ xin cấp hộ khẩu ( như trường hợp cụ Cao Thị Thơ khi chuyển từ  địa chỉ số 40B cụm 7 phường Đông Khê đến khu Thanh Toàn xã An Đồng). Đồng thời xem xét lại sự thống nhất giữa UBND phường Đông Khê ( nơi đi) và UBND xã An Đồng (nơi đến) trong việc bàn giao các thủ tục chuyển người, nhận người. Chỉ bàn giao đất, không bàn giao con người, chưa làm thủ tục cấp đất cho dân thì rất khó cho nơi tiếp nhận. Phía dự án cũng cần thấy rõ trách nhiệm với người dân, vì việc chỉ biết bán nhiều đất, thu nhiều tiền vô hình chung góp phần đẩy người dân vào tình trạng “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.

 

Nhóm PV chuyên đề