Không ngừng hoàn thiện pháp luật, chính sách để đạt được mục tiêu của công tác gia đình trong thời kỳ mới
Gia đình là đơn vị xã hội quan trọng, khi xã hội phát triển thì gia đình cũng biến đổi và phát triển với những sắc thái khác nhau. Điều này đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện pháp luật, chính sách về gia đình để đạt được mục tiêu của công tác gia đình trong thời kỳ mới. Đây là vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh tại Hội thảo khoa học “Tăng cường công tác tham mưu xây dựng gia đình trong tình hình mới” do Bộ VH,TT&DL, Ban Tuyên giáo và Dân vận trung ương, Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp tổ chức ngày 30/7.

Bàn về những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý Nhà nước về gia đình, ông Khuất Văn Quý - Phó Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, Bộ VH,TT&DL nhấn mạnh, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt hệ giá trị gia đình song hành với ba hệ giá trị nền tảng tạo thành một chỉnh thể đồng bộ và thống nhất, bao gồm: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Điều này khẳng định gia đình không dừng ở vai trò “tế bào của xã hội” mà đã trở thành nền tảng trực tiếp vun đắp chuẩn mực con người, bảo tồn, phát huy các giá trị cốt lõi của quốc gia.
Định hướng chính trị này mở ra không gian phát triển lớn nhưng cũng đặt ra những yêu cầu thay đổi căn bản về mặt tư duy quản lý Nhà nước đối với công tác gia đình hiện nay như việc kiến tạo môi trường văn hóa gia đình lành mạnh, củng cố các mối quan hệ tiến bộ, hạnh phúc và tăng cường năng lực tự phòng ngừa trước các nguy cơ xâm hại từ môi trường mạng và đời sống hiện đại.
Theo ông Quý, việc hệ giá trị gia đình là một trong bốn hệ giá trị nền tảng trong phát triển văn hóa, đòi hỏi công tác gia đình phải chuyển từ cách tiếp cận đơn ngành sang tiếp cận đa ngành, đặt gia đình trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển văn hóa, phát triển con người và an sinh xã hội.

Theo đó, quản lý Nhà nước về gia đình không chỉ hướng đến giải quyết các vấn đề phát sinh mà cần chủ động kiến tạo môi trường để gia đình thực hiện tốt chức năng giáo dục, chăm sóc, bảo vệ và truyền thụ các giá trị văn hóa. Đồng thời, cần đổi mới phương thức quản lý từ tiếp cận hành chính, định tính sang quản trị dựa trên bằng chứng và dữ liệu; tăng cường nghiên cứu, dự báo xu hướng biến đổi gia đình để kịp thời hoạch định chính sách phù hợp với từng nhóm dân cư và từng vùng, miền, ông Khuất Văn Quý khẳng định
Từ góc độ Bộ Công an, nhìn nhận vấn đề chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quản trị gia đình truyền thống, sự phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh và mạng xã hội đang làm gia tăng tình trạng “ngắt kết nối thực chất” giữa các thành viên trong gia đình, về lâu dài gây rạn nứt mối quan hệ cốt lõi, ảnh hưởng đến sự bền vững của mái nhà Việt Nam, Đại tá, Tiến sĩ Trịnh Khắc Cường, Phó Cục trưởng, Cục An ninh Chính trị nội bộ, Bộ Công an nhấn mạnh, yêu cầu cấp thiết hiện nay là xây dựng “sức đề kháng số” cho gia đình Việt Nam.

Khái niệm "sức đề kháng số của gia đình" như một năng lực tổng hợp, bao gồm khả năng nhận biết và ứng phó với các nguy cơ trên không gian mạng; kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân và tài sản số; khả năng chọn lọc, kiểm chứng thông tin; ý thức chấp hành pháp luật trên môi trường số; đồng thời giữ gìn, phát huy hệ giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là vấn đề trang bị kỹ năng công nghệ mà còn là quá trình xây dựng bản lĩnh văn hóa, năng lực thích ứng và khả năng tự bảo vệ của mỗi gia đình.
"Một gia đình có “sức đề kháng số” tốt sẽ không chỉ hạn chế được các nguy cơ từ không gian mạng mà còn có đủ năng lực để biến chuyển đổi số thành động lực nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế và giáo dục các thế hệ tương lai", Đại tá, Tiến sĩ Trịnh Khắc Cường nhấn mạnh.
Gia đình Việt Nam đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình gia đình truyền thống đa thế hệ sang mô hình gia đình hạt nhân chỉ bao gồm vợ chồng và con cái.
Theo số liệu khảo sát của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Biến đổi gia đình Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, tỉ lệ hộ gia đình hạt nhân chiếm đến 66,6% tổng số hộ, trong khi gia đình đa thế hệ chỉ còn 17,1%.
Về mặt tích cực, quy mô gia đình nhỏ giúp các hộ gia đình tập trung nguồn lực cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng sống. Đồng thời, vai trò của phụ nữ trong quá trình ra quyết định kinh tế gia đình cũng được nâng lên rõ rệt
Tuy nhiên, xu hướng này cũng đặt ra nhiều thách thức như giảm sự gắn kết dòng họ, gia tăng nguy cơ cô đơn ở người cao tuổi và làm suy yếu chức năng hỗ trợ tinh thần truyền thống của gia đình đa thế hệ.