“Không minh bạch, nhà nước không biết thất thoát bao nhiêu…”
Tài nguyên khoáng sản (TNKS) vẫn được xem là “của để dành” của quốc gia, thế nhưng thực tế các địa phương nơi có TNKS hay các doanh nghiệp được phép khai thác thường cho đây là “lộc” trời cho, dẫn đến buông lỏng quản lý, thất thu. Xung quanh vẫn đề này, Phóng viên PLVN đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), đơn vị vừa công bố báo cáo “Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng TNKS ở Việt Nam”.
Tài nguyên khoáng sản (TNKS) vẫn được xem là “của để dành” của quốc gia, thế nhưng thực tế các địa phương nơi có TNKS hay các doanh nghiệp được phép khai thác thường cho đây là “lộc” trời cho, dẫn đến buông lỏng quản lý, thất thu. Xung quanh vẫn đề này, Phóng viên PLVN đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), đơn vị vừa công bố báo cáo “Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng TNKS ở Việt Nam”.
Vì sao CODE cho rằng việc khai thác TN KS đang “thiếu minh bạch”?
TN KS là tài sản, là vốn dự trữ của quốc gia, việc khai thác sử dụng nguồn dự trữ này là chi tiêu vào vốn. Trên quan điểm này thì TN KS chỉ được khai thác sử dụng khi cần thiết. Trên thực tế việc khai thác KS trong thời gian qua chưa công khai minh bạch nên hàng năm Nhà nước cũng không thể quản được đã có bao nhiêu TN KS được khai thác. Việc quản lý họat động khai thác trong thời gian qua vẫn theo cơ chế “xin – cho”.
Là tài sản quốc gia mà quản lý theo cơ chế “xin – cho” thì làm sao minh bạch được? Các quy hoạch khai thác quản lý còn nhiều chồng chéo giữa các ngành, nhưng mỗi ngành vì lợi ích riêng nên không công khai. Vì thế quy hoạch không đồng bộ, thiếu thống nhất, thiếu thực tiễn, luôn phải thay đổi, vừa mất vai trò định hướng lại gây nên tình trạng mất cân đối giữa khai thác, chế biến và sử dụng. Kết quả nghiên cứu của CODE cho thấy ở nhiều tỉnh, Sở Công Thương không biết được Sở TN&MT đã cấp bao nhiêu giấy phép thăm dò KS cho DN.
Bên cạnh đó, DN được cấp phép thăm dò thường gắn liền với quyền lợi được cấp phép khai thác nên nhiều trường hợp DN báo cáo trữ lượng thấp hơn thực tế, Nhà nước không kiểm sóat được lượng khai thác. Nhiều DN chưa được cấp phép vẫn khải thác. Nhiều DN của Tập đoàn TKV ở Quảng Ninh, khai thác than từ lâu nhưng mãi đến cuối năm 2008 mới được cấp phép. Như vậy từ trước năm 2008 cơ quan chức năng không có căn cứ để thu các khoản nộp thuế và phí theo quy định. Thế là TN thất thoát, ngân sách thất thu…

Tong nghiên cứu của mình, CODE có đưa ra được con số ước lượng về thất thu ngân sách do khai thác TN KS?
Như tôi đã nói ở trên, ngành công nghiệp khai khoáng của chúng ta đang thiếu minh bạch. Vì vậy để đưa ra con số cụ thể là rất khó, song tôi có thể khẳng định con số này là khá lớn. Đơn cử như thế này: Các nguồn thu từ hoạt động KS của Nhà nước gồm; Tiền cho thuê đất, mặt nước; Lệ phí cấp phép hoạt động KS; Thu phạt xử lý vi phạm; Thuế TN; Thuế thu nhập DN… Bên cạnh đó có các khoản DN phải nộp là phí bảo vệ môi trường, quỹ phục hồi môi trường bị tổn hại…
Nhưng thực tế, nhiều DN khai thác không có giấy phép trong thời gian dài nên không có căn cứ thu tiền sử dụng đất, thiếu hồ sơ thuế đất... gây thất thoát tiền thuê đất; DN không khai báo hết lượng khai thác, lượng xuất khẩu, hoặc khai thác trái phép không nộp thuế... gây thất thoát thuế TN; DN khai báo không đúng thực tế khai thác, và thu nhập DN nên thuế thu nhập DN cũng thất thu. Bên cạnh đó, việc sử dụng các khoản thu cũng bất cập. Đơn cử như tại huyện Phù Mỹ (Bình Định), phí bảo vệ môi trường do các DN khai thác titan nộp chỉ có 3,5 tỷ đồng/năm trong khi nếu thu đủ theo kế hoạch khai thác được duyệt phải là 16 tỷ đồng (đó là chưa kể phần các DN khai thác vượt kế hoạch…
Theo ông, khuyến nghị nên tham gia sáng kiến EITI có thành hiện thực?
Hiện nay VCCI và CODE đã triển khai nghiên cứu nền tảng và khả năng thực thi Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác (EITI) của Việt Nam. Tuy nhiên, chặng đường phía trước chắc còn dài. Tín hiệu ban đầu cho thấy khuyến nghị Việt Nam nên tham gia sáng kiến ETTI đang nhận được sự đồng tình cao từ các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế và một số nhà quản lý. Hy vọng với sự đồng thuận của Chính phủ và nỗ lực của các bên liên quan, việc gia nhập và thực thi EITI là dấu mốc quan trọng của tiến trình minh bạch hóa trong hoạt động quản lý nhà nước và sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
Xin cám ơn ông!
Linh Lan (thực hiện)