Không gian văn hóa tín ngưỡng bên dòng Lô: Sự đan xen giữa linh thiêng tâm linh và dấu ấn lịch sử tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang

Không gian văn hóa tín ngưỡng bên dòng Lô: Sự đan xen giữa linh thiêng tâm linh và dấu ấn lịch sử tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang
Tiết mục múa rồng tại lễ hội. (Ảnh: PMX)

Nằm bên bờ sông Lô thơ mộng, phường Minh Xuân (thuộc thành phố Tuyên Quang cũ) không chỉ nổi tiếng là vùng căn cứ địa cách mạng mà còn là vùng đất đậm đặc văn hóa tâm linh với hệ thống đền, chùa, đình, miếu trải dài qua nhiều thế kỷ. Những ngôi đền cổ kính tọa lạc ven sông, tựa núi đã trở thành điểm hội tụ tín ngưỡng, nơi người dân bao đời gửi gắm ước vọng về cuộc sống bình an, mưa thuận gió hòa.

Phường Minh Xuân là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Tuyên Quang, là mảnh đất có bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Tại đây, có nhiều ngôi đền linh thiêng, mỗi ngôi đền đều gắn với một di tích lịch sử và những truyền thuyết về các vị thần linh và các anh hùng dân tộc được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Tiết mục hầu đồng. (Ảnh: PMX)
Tiết mục hầu đồng. (Ảnh: PMX)

Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng bản địa của người Việt, chiếm vị trí trung tâm trong đời sống tâm linh của cư dân nơi đây. Cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu, người dân Tuyên Quang còn thờ phụng Đức Thánh Trần Hưng Đạo, vị anh hùng dân tộc ba lần lãnh đạo đánh thắng quân Nguyên Mông; thờ Thành hoàng làng và các vị thần bảo hộ cộng đồng. 

Quần thể đền bên dòng sông Lô

Nổi bật nhất trong hệ thống đền thờ tại tỉnh Tuyên Quang là ba ngôi đền gắn kết với nhau bởi truyền thuyết về hai vị công chúa linh thiêng: Đền Hạ, đền Thượng và Đền Ỷ La (trong đó đền Hạ, đền Ỷ La thuộc phường Minh Xuân và đền Thượng thuộc phường Nông Tiến). Hằng năm, chính quyền địa phương tổ chức Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La (còn gọi là Lễ rước Mẫu) từ đền Ỷ La đến đền Hạ vào ngày 11/02, từ đền Thượng về đền Hạ vào ngày 12/02 âm lịch và rước Mẫu hoàn cung vào ngày 16/2 âm lịch. Đây là lễ hội lớn bậc nhất tại vùng đất Tuyên Quang với một số lượng du khách và nhân dân rất đông đảo đến chiêm bái, vọng cầu.

Kiệu rước Mẫu tại Lễ hội đền Hạ.(Ảnh: PMX)
Kiệu rước Mẫu tại Lễ hội đền Hạ.(Ảnh: PMX)

Truyền thuyết kể rằng thuở xa xưa, hai công chúa Ngọc Lân và Phương Dung theo xa giá vi hành xem xét dân tình, thuyền đỗ bên bờ sông Lô. Đêm hôm ấy nổi cơn mưa gió bất thần, hai nàng vụt bay lên trời. Người dân cho là điều linh dị, lập đền thờ phụng. Đền thờ công chúa Phương Dung dựng bên hữu ngạn sông Lô nay là Đền Hạ; Đền thờ công chúa Ngọc Lân dựng bên tả ngạn sông Lô nay là đền Thượng. Truyền thuyết cho rằng đền Ỷ La được xây tại nơi tượng thần Đền Hạ lánh nạn trong thời binh đao loạn lạc.

Đền Hạ (còn gọi là đền Tam Cờ hay đền Hiệp Thuận) được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1994, tọa lạc tại tổ dân phố Tân Quang 2, phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang. Đây là ngôi đền linh thiêng lớn nhất tại phường Minh Xuân, cửa đền hướng chính Đông nhìn ra bãi bồi sông Lô như một đảo ngọc xanh mướt, ngôi đền cổ tọa lạc trên vị trí đắc địa, mặt hướng sông, thu khí thiêng của đất trời; được xây dựng quy mô lớn vào năm 1738 đời vua Cảnh Hưng, qua nhiều lần trùng tu, đền hiện có kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc hoàn chỉnh gồm tam quan, tiền cung, trung cung và hậu cung. 

Di tích tại phường Minh Xuân. (Ảnh: PMX)
Di tích tại phường Minh Xuân. (Ảnh: PMX)

Nghệ thuật chạm khắc gỗ tại Đền Hạ được giới nghiên cứu đánh giá đặc biệt xuất sắc. Các hình tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng và tứ quý Tùng, Cúc, Trúc, Mai được chạm trổ tinh xảo trên toàn bộ cột, kèo, cửa võng. Đền còn lưu giữ quả chuông cổ đúc năm 1759 và nhiều sắc phong từ các triều đại. Hàng năm, lễ hội tại Đền Hạ, đền Thượng, Đền Ỷ La được tổ chức từ ngày 10 đến 16 tháng 2 và tháng 7 âm lịch, thu hút hàng vạn du khách và người hành hương khắp nơi về dự, với nghi thức rước Mẫu linh đình trên các tuyến đường phố chính và các trò chơi dân gian sôi nổi như kéo co, đẩy gậy, bịt mắt bắt vịt, bịt mắt đánh trống ...

Đền Ỷ La cách đền Hạ khoảng 4km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 2, được khởi dựng năm 1743 niên hiệu Cảnh Hưng. Đền thờ công chúa Phương Dung và Tam tòa Thánh Mẫu, hiện lưu giữ 32 pho tượng và bốn đạo sắc phong. Truyền thuyết cho rằng đền được xây tại nơi tượng thần Đền Hạ lánh nạn trong thời binh đao loạn lạc. Mỗi năm vào dịp lễ hội tháng hai, đoàn rước kiệu từ Đền Ỷ La và đền Thượng hội tụ về Đền Hạ trong nghi thức “em về thăm chị” một nét văn hóa tâm linh độc đáo, tái hiện câu chuyện của đôi công chúa thuở xa xưa.

Di tích Chùa Linh Thông. (Ảnh: PMX)
Di tích Chùa Linh Thông. (Ảnh: PMX)

Đền Thượng còn gọi là Đền Dùm hay Đền Sâm Sơn lưng tựa núi Dùm, mặt hướng sông Lô. Khác với Đền Hạ ở hữu ngạn, đền Thượng ở tả ngạn sông Lô thờ công chúa Ngọc Lân và Đức Thánh Trần. Đây cũng là một quần thể kiến trúc phong phú với nhiều hạng mục như: tòa tiền tế, hai tòa trung cung, hậu cung kiểu vòm, cùng các am, động, lầu thờ các vị thần linh. Đền có 12 đạo sắc phong từ các đời vua Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Cảnh Thịnh, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức đến Khải Định một kho tư liệu lịch sử quý giá.

Đền Kiếp Bạc - Nơi thờ phụng vị anh hùng Trần Quốc Tuấn

Trong hệ thống đền thờ tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang, Đền Kiếp Bạc nằm trong cùng quần thể với đền Hạ, mang một sắc thái đặc biệt nơi người dân tưởng nhớ vị tướng tài ba lỗi lạc bậc nhất của dân tộc Đại Việt thời phong kiến: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Di tích Chùa Trùng Quang.(Ảnh: PMX)
Di tích Chùa Trùng Quang.(Ảnh: PMX)

Sinh năm 1226, Trần Quốc Tuấn là con trưởng An Sinh Vương Trần Liễu, cháu ruột vua Trần Thái Tông. Trong vòng 30 năm từ 1258 đến 1288, dưới sự chỉ huy của ông, quân dân Đại Việt ba lần đánh thắng đạo quân hùng mạnh của đế quốc Nguyên Mông đang tung hoành khắp lục địa Á-Âu. Trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288 ông cho đóng cọc ở cửa sông, nhử giặc đuổi theo khi nước triều xuống đi vào lịch sử như một trang chói lọi của nghệ thuật quân sự Việt Nam. 

Đền được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Đinh, phía trước là hai trụ biểu với đôi nghê oai phong. Đền hiện lưu giữ 5 đạo sắc phong từ thời Minh Mệnh đến Khải Định. Năm 2002, nội thất được tu bổ thêm bức tranh đắp nổi thể hiện ba trận đại chiến chống quân Nguyên, một tác phẩm nghệ thuật vừa mang giá trị thẩm mỹ vừa có ý nghĩa giáo dục lịch sử sâu sắc.

Ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm, người dân cả nước tổ chức quốc giỗ Đức Thánh Trần theo câu ca dân gian: “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”. 

Huyền tích dưới những tán cổ thụ 

Đền Cảnh Xanh tại phường Minh Xuân là ngôi đền mang tên một cây cổ thụ, cây di sản quốc gia. Trước đền có một cây xanh (thuộc họ si) cổ thụ ngàn năm tuổi với tán rộng che phủ cả trăm mét, những nhánh rễ phụ lâu đời đan xen vào nhau tạo thành nhiều hình thù kỳ lạ. Đi dưới tán cây, du khách cảm nhận rõ không khí mát mẻ trong lành, không gian tĩnh lặng và huyền ảo giữa bốn bề phố xá nhộn nhịp, một khoảng lặng hiếm quý để bình tâm thư thái giữa cuộc sống bộn bề.

Kiệu Mẫu Ỷ La. (Ảnh: PMX)
Kiệu Mẫu Ỷ La. (Ảnh: PMX)

Đền Mỏ Than tại tọa lạc trên đỉnh Thán Sơn bốn mùa rợp bóng cây xanh, có lịch sử gắn với một vụ sập hầm mỏ chôn vùi hàng chục thợ mỏ. Người dân địa phương lập thêm đền thờ Mẫu Thượng Ngàn bên cạnh ngôi đền thờ Đức Thánh Trần đã có từ trước, cầu nguyện cho linh hồn những người xấu số và che chở cho công nhân mỏ. Từ chân núi, theo đường lát đá hai bên cổ thụ rợp bóng mát lên tới đền, không gian u tịch và thiêng liêng khiến lòng người như được lắng lại. 

Cách đó không xa có một ngôi nhà sàn gỗ, nhà bia tưởng niệm các anh hùng, với khuôn viên thoáng đãng cùng cỏ cây hoa lá bốn mùa xanh tươi. Đây là vị trí của di tích Địa điểm thành lập Chi bộ Mỏ Than - di tích lịch sử cách mạng, là nơi ghi dấu sự kiện buổi họp đầu tiên của Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, chi bộ đầu tiên trong lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây thường xuyên đón tiếp các đoàn đại biểu, nhân dân, học sinh… đến dâng hương, tưởng nhớ và ôn lại kỷ niệm hào hùng của các bậc cha ông nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Đền Đồng Xuân - Dấu ấn văn hóa xưa

Đền Đồng Xuân thuộc phường Minh Xuân, được khởi dựng vào cuối thế kỷ XIX, bằng tấm lòng của các thiện nam tín nữ xây dựng nên. Căn cứ vào tấm bia đá còn lưu giữ tại đền Đồng Xuân có niên hiệu Thành Thái thứ 18, (năm 1906) nói về việc bà Đoàn Thị Nga - con gái ông Đoàn Tiên Công - chánh quản vệ tỉnh Tuyên Quang đã quyên góp tiền của để trùng tu lại đền. Nơi đây có dấu tích thờ phụng Bà Chúa Kho, phát chẩn kho lương cứu đói dân lành.

Không gian văn hóa tín ngưỡng bên dòng Lô: Sự đan xen giữa linh thiêng tâm linh và dấu ấn lịch sử tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang

Bên cạnh những ngôi đền thờ nổi tiếng, tại phường Minh Xuân còn có những ngôi chùa đẹp tọa lạc. Chùa Trùng Quang, tọa lạc trên một khu đất cao và bằng phẳng bên dòng sông Lô uốn khúc mang lại cảnh sắc thanh tịnh chốn thiền môn. Ở thế đất lành tự nhiên "Sơn kỳ thủy tú", phong cảnh hữu tình, là nơi kết hợp đồng điệu giữa cảnh sắc thiên nhiên với nhịp sống con người vùng sơn cước. Tất cả toát lên một vẻ đẹp thanh tao thoát tục chốn thiền môn.

Chùa Linh Thông, quay hướng Tây trên đỉnh ngọn đồi nhỏ bên dòng sông Lô tạo nên cảnh sắc hữu tình. Chùa Linh Thông xưa kia là một ngôi đình của làng Xuân Áng xã Ỷ La, trong chùa vẫn còn ngai thờ, bài vị phối thờ kiểu "Tiền phật hậu thánh" và một đạo sắc phong của vua Khải Định thứ 9 (1923), và phong là Cao Sơn Đại vương tôn thần, ban mỹ tự là: Trác Vĩ Dực Bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Ngoài ra, tại phường Minh Xuân còn có một ngôi Đình Xã Tắc, là một ngôi đình cổ còn sót lại trên địa bàn, được dựng trên nền đàn Xã Tắc, nơi được coi là đất linh thiêng nhất của một vùng; là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, hành chính  của cộng đồng làng xã. Xã Tắc ở đây là tên đàn tế trời đất. Xa xưa chỉ ở kinh đô mới lập đàn Xã Tắc để vua và các đại thần tế lễ. Thời nhà Nguyễn thì không riêng ở kinh đô, nhiều nơi trong cả nước lập đàn tế trời đất. Đây là một tục lệ của cư dân nông nghiệp. Về đàn Xã Tắc ở Tuyên Quang, sách Đại Nam nhất thống chí, mục đền miếu chép: Đàn Xã Tắc ở xã Ỷ La, dựng năm 1883, Minh Mạng thứ 1.

Các ngôi đền, chùa tại phường Minh Xuân không chỉ có giá trị tín ngưỡng mà còn là những công trình kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc. Phần lớn được xây dựng theo kiểu chữ Đinh hoặc nội công ngoại quốc, với hệ thống tường hồi bít đốc tay ngai, mái chồng diêm nhiều tầng, đầu đao cong vút. Kỹ thuật chạm khắc gỗ đạt trình độ tinh xảo cao với đề tài chủ đạo là tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) và tứ quý (Tùng, Cúc, Trúc, Mai).

Điểm nổi bật trong bài trí thờ tự tại nhiều đền tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang là lối “tiền Phật hậu Mẫu” phía trước thờ Phật, phía sau thờ Mẫu. Phản ánh truyền thống dung hợp tôn giáo của người Việt. Tại Đền Hạ, Đền Cảnh Xanh đều có sự phối thờ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, tạo nên không gian tâm linh đa chiều mà hài hòa.

Hệ thống tượng thờ tại các đền, chùa phần lớn được tạc bằng gỗ mít, thể hiện trình độ điêu khắc dân gian cao. Các pho tượng Mẫu toát lên vẻ đẹp nhân từ, trang nghiêm; tượng các Quan Hoàng, Cô, Cậu mang nét sinh động, gần gũi. Đặc biệt, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhiều đền được các nhà nghiên cứu đánh giá là những tác phẩm điêu khắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật không gian và nghệ thuật thời gian, qua hình ảnh đôi tay chính kết ấn trước ngực cùng nhiều cặp tay phụ tỏa ra hai bên như đang chuyển động.

Không thể không nhắc đến kho tàng câu đối, hoành phi, bia ký chữ Hán-Nôm tại các đền, chùa, những văn bản mang giá trị lịch sử, văn học và thư pháp quý giá. Từ bài minh trên chuông cổ đến những đôi câu đối sơn son thếp vàng, tất cả đều chứa đựng triết lý sâu xa về nhân sinh, về mối quan hệ giữa con người với trời đất và thần linh.

Điều làm nên sức sống bền bỉ của hệ thống đền, chùa tại Minh Xuân - Tuyên Quang chính là vai trò trung tâm của quần chúng trong đời sống cộng đồng. Lễ hội đền không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn là dịp để người dân gặp gỡ, giao lưu, cùng nhau vui chơi và ôn lại truyền thống. Nghi thức rước Mẫu với đoàn rước hàng trăm người, kiệu bát cống sơn son thếp vàng, cờ hội phất phới, tiếng nhạc bát âm rộn ràng, tất cả tạo nên bức tranh văn hóa sống động, đặc trưng của vùng đất ven sông Lô.

Cùng với lễ hội, đền thờ còn là không gian của những sinh hoạt văn hóa phi vật thể phong phú: hát chầu văn, hình thức diễn xướng dân gian gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu; thực hành lên đồng với trang phục lộng lẫy, âm nhạc du dương; các trò chơi dân gian như kéo co, bịt mắt bắt vịt, đi cầu kiều, bắt trạch trong chum... Tất cả những sinh hoạt này không chỉ bảo tồn vốn di sản văn hóa phi vật thể mà còn tạo ra sợi dây gắn kết cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Một điều thú vị là người dân Tuyên Quang dễ dàng dung hợp, hòa đồng các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa trong cùng một không gian thờ tự. Điều này minh chứng cho sức sống mãnh liệt của văn hóa dân gian trước những biến thiên lịch sử.

Bảo tồn và phát huy di sản

Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống đền, chùa, chính quyền và nhân dân phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang trong những năm gần đây đã dành nhiều nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, phát triển du lịch địa phương. Nhiều di tích đã được tu bổ, tôn tạo; Tổ Quản lý di tích lịch sử - văn hóa phường được thành lập với quy chế hoạt động rõ ràng. Đền Hạ được xếp hạng di tích cấp quốc gia; Thành Tuyên Quang (Thành Nhà Mạc) được công nhận di tích cấp quốc gia; nhiều đền và chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh.

Năm 2007, lễ hội Đền Hạ chính thức được khôi phục, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình bảo tồn di sản văn hóa tâm linh của địa phương. Từ đó đến nay, lễ hội ngày càng thu hút đông đảo du khách từ khắp nơi trong cả nước về hành hương, tham quan, góp phần thúc đẩy du lịch tâm linh loại hình du lịch đang phát triển mạnh tại Tuyên Quang.

Tuy nhiên, công tác bảo tồn vẫn còn nhiều thách thức. Một số di tích xuống cấp, cần nguồn kinh phí lớn để trùng tu. Sự cân bằng giữa bảo tồn nguyên bản và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng ngày càng tăng của người dân là bài toán đòi hỏi trí tuệ và tâm huyết của các nhà quản lý văn hóa.

Hệ thống đền, chùa tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang là di sản văn hóa quý giá được tích lũy qua nhiều thế kỷ lịch sử. Từ những ngôi đền cổ kính ven sông Lô đến những không gian tín ngưỡng trên đỉnh núi xanh, tất cả đều là nhân chứng sống cho đời sống tâm linh phong phú và truyền thống văn hóa đặc sắc của người dân vùng đất căn cứ địa cách mạng.

Đằng sau những mái đền cong vút, những câu đối thếp vàng và tiếng chuông ngân vang, là linh hồn của một cộng đồng dân cư gắn bó với đất đai, với tổ tiên và với nhau qua bao thăng trầm lịch sử. Bảo tồn và phát huy những di sản này không chỉ là trách nhiệm với thế hệ mai sau, mà còn là cách để người Tuyên Quang hôm nay nhớ về cội nguồn, sống trọn với bản sắc văn hóa của vùng đất ven sông Lô muôn đời linh thiêng.

Lê Hanh