VÌ TỔ QUỐC BÌNH YÊN VÀ HÀNH TRÌNH “BÓC TRẦN” TỘI PHẠM TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG - Bài 2:

"Khoảng trống” nào đang “tiếp tay” cho tội phạm công nghệ cao?

"Khoảng trống” nào đang “tiếp tay” cho tội phạm công nghệ cao?
Khác với tội phạm truyền thống, chứng cứ trong các vụ án CNC là các DL điện tử. (Ảnh: Internet)

TP CNC không chỉ lợi dụng sự phát triển của công nghệ (CN) mà còn khai thác những “khoảng trống” trong nhận thức của người dùng, “lỗ hổng” bảo mật, bất cập của cơ chế quản lý và sự thiếu đồng bộ trong phối hợp xử lý. Khi các “khe hở” này chưa được lấp đầy, không gian mạng vẫn sẽ là mảnh đất màu mỡ để các đối tượng LĐ CĐTS và xâm phạm dữ liệu cá nhân (DLCN) tiếp tục hoành hành.

Tốc độ lập pháp chưa bắt kịp tốc độ CN…

Từ thực tiễn tham gia tư vấn và bào chữa trong các vụ án hình sự lớn, Luật sư (LS) Hoàng Văn Hướng - Trưởng Văn phòng LS Hoàng Hưng (Đoàn LS TP Hà Nội) cho rằng, sự gia tăng của tội TP CNC hiện nay xuất phát từ 3 “khoảng trống”, hay nói đúng hơn là độ trễ mang tính kỹ thuật của pháp luật so với tốc độ biến hóa của CN.

Cụ thể, theo LS, nguyên nhân chính là do tốc độ lập pháp chưa bắt kịp tốc độ CN: Các chế định pháp lý hiện hành (như Bộ luật Hình sự, Luật An ninh mạng) dù đã có những sửa đổi lớn nhưng vẫn mang tính “chạy theo” thực tế. Nhiều hành vi biến tướng tinh vi trên không gian mạng hiện nay chưa được định danh rõ ràng hoặc khung hình phạt chưa đủ sức răn đe so với siêu lợi nhuận mà chúng mang lại. Bên cạnh đó là sự lỏng lẻo trong quản lý hạ tầng số: Đây là “lỗ hổng” thực thi cốt lõi. Tình trạng “sim rác”, TK ngân hàng “ảo” (mua bán, cho thuê danh tính) và các ví điện tử không chính chủ vẫn diễn ra tràn lan, mạnh mẽ. Chính sự thiếu triệt để trong khâu hậu kiểm này đã vô tình cung cấp một “bộ áo giáp ẩn danh” hoàn hảo cho TP mạng hoạt động mà không sợ bị lộ diện.

Không chỉ vậy, ranh giới quản lý nhà nước trên không gian mạng còn chồng chéo: Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý viễn thông, hệ thống tài chính - ngân hàng và cơ quan điều tra đôi khi còn lơi lỏng. Việc chậm trễ trong chia sẻ DL theo thời gian thực (real-time) khiến chúng ta luôn đi sau đối tượng một bước.

Cùng với đó là những vướng mắc trong thu thập chứng cứ, truy vết dòng tiền và giải pháp hoàn thiện. LS Hướng cho biết, thực tế đấu tranh với loại TP này cho thấy, khó khăn không nằm ở chỗ chúng ta không biết có TP, mà nằm ở khâu kỹ thuật tố tụng. Nguồn gốc của những vướng mắc, xuất phát do sự biến mất của chứng cứ điện tử. Khác với tội phạm truyền thống, chứng cứ trong vụ án CNC là các DL điện tử. Đối tượng chỉ cần một thao tác click chuột là có thể xóa sạch dấu vết hoặc kích hoạt chế độ tự hủy trên các ứng dụng mã hóa như Telegram, Signal…

Thêm vào đó, dòng tiền “xuyên biên giới” và tiền số nên số tiền LĐ không còn nằm yên trong hệ thống ngân hàng nội địa để kịp phong tỏa, mà được “rửa” qua hàng trăm TK trung gian trong vài phút, chuyển hóa thành tiền ảo (cryptocurrency) hoặc chuyển ra nước ngoài thông qua các sàn giao dịch phi tập trung. Ngoài ra, thủ tục hành chính còn độ trễ cũng là nguyên nhân làm cho loại TP này tăng cao: Quy trình yêu cầu các tổ chức tín dụng, nhà mạng cung cấp thông tin, sao kê TK hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục phê duyệt theo Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoảng thời gian từ khi phát hiện đến khi có lệnh phong tỏa hợp pháp thường mất từ vài ngày đến vài tuần - lúc này, dòng tiền đã hoàn toàn “bốc hơi”.

Đại tá Nguyễn Thị Thanh Thùy - Phó Trưởng Khoa Luật, HV ANND. (Ảnh: VH)
Đại tá Nguyễn Thị Thanh Thùy - Phó Trưởng Khoa Luật, HV ANND. (Ảnh: VH)

Đề cập đến những “khoảng trống” tiếp tay cho loại TP này, PGS.TS, Đại tá Nguyễn Thị Thanh Thùy - Phó Trưởng Khoa Luật (HV ANND) nhận định, sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong việc phòng ngừa TP trên không gian mạng dần đồng bộ. Tuy nhiên, còn tồn tại nằm ở các đơn vị cung cấp nền tảng như Facebook, Zalo, Youtube… tuy đã có sự đề nghị phối hợp nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.

Cụ thể, đối với các đơn vị cung cấp nền tảng, cơ chế phối hợp đã có và chúng ta cũng đã đề nghị cung cấp các TK định danh trên mạng xã hội nhưng vì lợi nhuận, họ vẫn bảo vệ người sử dụng mạng. “Cái khó là tính ẩn danh hiện nay trên mạng rất cao và TP sử dụng CNC thực hiện được là do tính ẩn danh này. Nếu đối tượng đã định danh với TK đã sử dụng trên mạng xã hội và nếu TK nào cũng được định danh thì các đối tượng sẽ không ngang nhiên, trắng trợn đến mức độ có thể LĐ trên diện rộng như vậy.

Hiện nay chúng ta vẫn chưa thể nào truy đến tận cùng các đối tượng phạm tội. Nhưng nếu chúng ta quyết tâm làm đến cùng, các đối tượng, kể cả đang hoạt động ở nước ngoài cũng sẽ bị truy quét, dù cho không phải nước nào cũng phối hợp dẫn độ, hay phối hợp điều tra. Với TP này, kể cả chúng ta đã biết đối tượng ở đâu nhưng để truy ra con người đó vẫn không hề dễ dàng” - Đại tá Nguyễn Thị Thanh Thùy nhận định.

Quản lý các nền tảng chưa chắc chắn?!

Theo Đại tá Nguyễn Thị Thanh Thùy, người Việt Nam sử dụng mạng xã hội rất nhiều nhưng chúng ta vẫn chưa quản lý chặt chẽ vấn đề này. Điều cần thiết bây giờ chính là cần phải có các biện pháp kiên quyết hơn để làm sao các mạng xã hội được sử dụng nhưng phải có điều kiện đi kèm. Cán bộ ngân hàng cũng nên tỉnh táo, nâng cao trách nhiệm bảo vệ tài sản cho khách hàng của mình khi nhận thấy những nghi vấn bất thường.

Thực tế ở Hà Nội có TH nạn nhân tự nhiên đến ngân hàng rút gần tỷ đồng, trong khi vừa mới gửi cách đây không lâu. Nghi vấn trong đầu, cộng với thái độ khác lạ của khách hàng (nét mặt lo lắng, căng thẳng, tay chân run…), cán bộ ngân hàng đã báo công an phường sở tại đến hỗ trợ. Bằng nghiệp vụ của mình, cơ quan chức năng đã tra hỏi và được biết nạn nhân bị một đối tượng dọa sẽ báo công an bắt vì nghi ngờ bà liên quan đến một đường dây mua bán ma túy. Để giải quyết ổn thỏa, bà phải chuyển cho chúng một số tiền khá lớn. Lo sợ bị bắt, bà đã ra ngân hàng rút tiền và định chuyển tiền theo số TK chúng cung cấp. Sau khi cơ quan chức năng phân tích, nạn nhân mới tỉnh ngộ…

LS Hoàng Văn Hướng - Trưởng Văn phòng LS Hoàng Hưng (Đoàn LS TP Hà Nội).(Ảnh: LSCC).
LS Hoàng Văn Hướng - Trưởng Văn phòng LS Hoàng Hưng (Đoàn LS TP Hà Nội).(Ảnh: LSCC).

Do đó, người dân phải nêu cao cảnh giác đối với loại TP này, bởi cho dù các thủ đoạn có tinh vi đến đâu nhưng khi người dân biết cách tự bảo vệ mình thì việc các đối tượng hoàn thành được hành vi phạm tội là cực kỳ khó. Thứ nhất, người dân nên sử dụng và có trách nhiệm đối với phát ngôn của mình trên không gian mạng. Thứ hai, khi tiếp nhận các thông tin, người dân nên tìm hiểu chính xác, rồi tham khảo ý kiến của những người am hiểu về lĩnh vực đó, thậm chí tìm đến chính quyền địa phương để xác nhận thông tin. Khi đã xác nhận được đó không phải là nguồn thông tin chính thống thì tuyệt đối không chia sẻ, vì chỉ một nút “share” thôi cũng có thể là hành vi vi phạm pháp luật dù bản thân không thực hiện bài viết đó. Thứ ba, phải chịu khó tìm hiểu thông tin để biết được bản chất của sự thật là gì, từ đó tránh bị LĐ, dẫn dụ…

“Đặc biệt, người dân phải hết sức cảnh giác trước những cuộc gọi, hoặc tin nhắn bị tiếp nhận một cách thụ động. Khi gọi đến, các đối tượng có thể nhân danh bất cứ người nào, cơ quan nào. Nhưng, người dân phải hiểu rằng không có cán bộ cơ quan nhà nước nào mà lại đòi hỏi một khoản thuế phí, hoặc yêu cầu mình phải chứng minh một việc làm nào đó qua điện thoại. Mà dù mình có làm hay không làm, họ cũng không bao giờ yêu cầu mình phải chứng minh. Tất cả các công việc liên quan đến Nhà nước đều yêu cầu người dân đến trụ sở cơ quan nhà nước để làm việc, xác minh. Trong trường hợp nhận được các cuộc gọi cảm thấy hoài nghi, người dân nên hỏi xem cơ quan, trụ sở cần làm việc ở đâu, sau đó đến thẳng đó trao đổi, chứ không nên bấm vào các đường link, hay gửi TK của mình cho họ” - PGS.TS Thanh Thùy khuyến cáo.

Để lấp đầy các “khoảng trống” nêu trên, LS Hướng đưa ra những giải pháp rất thực tế như: Xây dựng cơ chế “Phong tỏa khẩn cấp” (Fast-track): Cần luật hóa quyền hạn cho phép lực lượng An ninh mạng và Phòng, chống TP CNC (hoặc Cơ quan điều tra) ra lệnh đóng băng ngay lập tức các TK có dấu hiệu nghi ngờ lừa đảo trong vòng 24 - 48 giờ trước khi cần phê duyệt phê chuẩn chính thức từ Viện kiểm sát; Hoàn thiện pháp lý về chứng cứ điện tử: Cần có hướng dẫn cụ thể hơn về việc công nhận, thu thập và bảo quản DL điện tử, DL đám mây để các cơ quan tố tụng áp dụng thống nhất, tránh việc chứng cứ bị bác bỏ do sai sót quy trình thu thập; Định danh giao dịch tài sản số: Nhanh chóng đưa các giao dịch tài sản ảo, tiền ảo vào khung quản lý để kiểm soát, không để loại hình này trở thành “thiên đường” rửa tiền.

Cũng theo vị LS này, khi TP mạng đã tiến lên mức độ sử dụng trí tuệ nhân tạo - TTNT (AI) và hoạt động xuyên biên giới, tư duy quản lý cũng phải thay đổi toàn diện. Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp mang tính đột phá như: Bổ sung hành vi cấu thành liên quan đến AI và Deepfake: Cần sớm đưa các hành vi “giả mạo danh tính, khuôn mặt, giọng nói bằng CN AI nhằm mục đích lừa đảo hoặc bôi nhọ” thành một tình tiết tăng nặng hoặc một tội danh độc lập trong Bộ luật Hình sự. Cần thiết lập cơ chế “Phản ứng nhanh” nội địa: Thành lập một trung tâm chỉ huy tác chiến liên ngành vận hành 24/7 gồm: Bộ Công an, Bộ KH và CN, Ngân hàng Nhà nước và các tập đoàn CN lớn. Mục tiêu là khi có dòng tiền lừa đảo hay thông tin độc hại từ Deepfake xuất hiện, lệnh chặn dòng tiền và gỡ bỏ nội dung phải được thực thi trong vòng vài phút…

(Còn tiếp)

Vân Hương - Đoan Trang - Quỳnh Chi - Phạm Giang