Khoảng trống ký ức
Truyện ngắn của Hà Tâm
Nhìn đứa cháu ngồi ăn ngấu nghiến món canh thịt mà những nếp nhăn trên mặt bà lão có phần như lặn bớt, nhường chỗ cho một niềm vui gì đó sắp đến: “Đói dữ hôn cháu! Ăn cho no đi cháu. Nhìn cháu mà bà nhớ đến cha cháu hồi đó. Cháu có khuôn mặt giống cha cháu hồi nhỏ như đúc”. Đứa cháu cố húp chén canh nghe ừng ực, mồ hôi đổ vã thấm áo. “Không biết tụi cháu có giận bà nhiều không, chứ cha tụi cháu giận bà dữ lắm. Làm ăn thiếu hụt thì phải cố gắng vượt qua, tiền nay không có thì mai có, chứ bán đất này đi rồi biết bao giờ mới mua lại được. Với lại bà gần cả cuộc đời sống ở đây rồi, giờ mà chuyển lên trên thành thị, bà không ở được đâu”. Nước mắt bà lão bắt đầu lan tỏa theo những nếp nhăn trên hai má. Đứa cháu đặt chén canh xuống rồi nói huyên thuyên để an ủi bà lão: “Cha cháu giận bà, không cho anh em tụi cháu về gặp bà, nhưng cháu sẽ trốn về thăm bà hoài hoài mà”.
Bà lão kéo vạt áo lên chùi nước mắt hai bên má: “Cháu biết hông, lúc mới sinh ra, cha cháu khó nuôi lắm. Ông cháu đặt tên là Thuấn. Nuôi cha cháu được gần một tuổi thì ông của cháu bị bọn ác chỉ điểm bắn chết ngay trong hầm bí mật. Bây giờ cha cháu cũng không nhớ nổi mặt ông của cháu. Ông mất, bà khóc hết nước mắt. Cả bốn mẫu đất các cụ để lại, kết cuộc cũng bị bà Ba Mạnh mua ráo. Cuối cùng họ cũng cho chuộc lại hai công ngay nhà mà bà ở hiện giờ”. Nói tới đây bà lão lại uất nghẹn. Để chuộc lại hai công đất bà phải cấy lúa, gặt lúa cho họ ròng rã mấy năm trời. Đâu phải làm đúng giờ, đúng giấc là được ngơi nghỉ. Mới ba giờ khuya bà đã lục đục thức dậy, bắc nồi cơm cho Thuấn để sẵn ở nhà. Bà Ba Mạnh đứng bên đầu đất réo gọi ùm trời: “Chị Tư ơi! Chị biết giờ rồi mà còn núp tuốt ở trong nhà, để cho công cán người ta chờ đợi có mình chị vậy”.
Năm nào cũng vậy, vào đầu tháng tám là người ta đã bắt đầu gieo mạ. Đến khoảng tháng chín thì con nước lớn chảy tràn ngập cả cánh đồng. Mạ nằm lềnh bềnh, chập chùng lên xuống theo sóng nước. Bên kia, cánh đàn ông nhổ mạ đập vào đùi lách bách. Nhìn người ta nhổ mạ bà lại nhớ đến ông cụ bố chồng. Trước kia ông cụ đi nhổ mạ chỉ mặc có mỗi cái quần cụt cũ sì. Vậy mà cụ quý nó như bạc vàng. Sợ đập mạ làm mòn rách quần, nên mỗi khi lội xuống nhổ mạ, cụ lột nó ra rồi đem treo ở cây đòn sóc gần đó. Cuối cùng cũng bị thằng Hai Củ trộm mất…
Thuấn ở nhà tối ngày không có ai chơi nên cứ theo chơi chung mấy đứa trong xóm. Biết là tụi nó không cho chơi chung mà cứ bám theo. Thời gian luôn đi tới, làm mấy năm trời cuối cùng bà cũng trừ xong nợ nần cho hai công đất. Thuấn ngày một cao ngồng, giống ông như hai giọt nước. Nhưng cái thời giặc giã thế này, con càng lớn bà càng lo. Bên ngoài, bọn lính rà tới lui, hễ thấy đứa nào có vóc dáng cao to một chút là tụi nó hỏi giấy căn cước. Ông mất, bà chỉ còn mình Thuấn là niềm an ủi để sống. Thấy tình hình có vẻ không ổn. Bà vội chạy tiền nhờ người ta làm giấy căn cước nhỏ tuổi, rồi bà dắt Thuấn lên thị xã, gởi nó ở nhà ông Tư Tụi để theo học nghề mộc làm thí công ăn cơm ngày ba buổi.
Ông Tư Tụi nhờ sống ở trển lâu ngày nên có quan hệ quen biết với bọn lính, có gì ổng lo hết. Ông Tư Tụi cũng là thợ mộc có tiếng ở cái đất thị xã nên được nhiều người mướn. Ông hết dựng nhà cho người này, đến đóng tủ, bàn, ghế cho người kia. Ngay cả mấy cái sạp ngoài chợ nhà lồng thị xã ổng cũng lãnh làm. Lính của ổng cả chục đứa đều trạc tuổi như thằng Thuấn, có một số lớn hơn vài tuổi cũng làm và trốn quân dịch ở trong đó.
Ở dưới quê bà hết buôn cái này, bắt cái kia, làm có tiền để hằng tuần lên thăm nó. Mỗi khi lên như vậy phải có chút quà cáp cho người ta. Sợ nhất là tới đợt làm lại giấy căn cước cho nó, tốn tiền bằng bà chuộc lại hai công đất trước đó. Còn sống thì còn làm ra tiền, để Thuấn bị người ta bắt đi thì bà chết còn hơn.
Ở xóm trên, có thằng Liều khùng khùng điên điên suốt ngày đi rình đàn bà con gái tắm, miệng không ngớt tục tĩu này nọ. Con Sấu, con chị Ba Ơn, có dáng mảnh mai, da dẻ hồng hào trắng trẻo, mặt trái xoan, tóc đen mượt. Vậy mà chị Ba Ơn bằng mọi giá ép gả con nhỏ cho thằng Liều. Vì nhà ổng có đất điền nhiều, chị Ba Ơn ham nên muốn kết sui gia. Con Sấu bỏ trốn xuống nhà bà ở biệt. Hàng ngày nó phụ bà làm các thứ trong nhà. Mặc dầu chỉ là bà con chung đầu ông cố với nhau, nhưng Sấu coi bà như mẹ ruột. Heo cúi vịt gà nó nuôi con nào con nấy mập nung núc, không bao lâu là tới tháng xuất chuồng. Có bao nhiêu bà cũng đem đắp cho thằng Thuấn, nó cũng không đòi mua thứ gì cho riêng nó. Nó coi Thuấn như em ruột.
Hôm nào lên thăm thằng Thuấn là bà chuẩn bị các thứ, nào bánh bò, bánh ích trần, dừa xiêm, chuối xiêm... không quên đem con gà mái tơ hay con vịt xiêm cồ cho anh Tư Tụi. Sáng đi đò lên tới thị xã chín, mười giờ trưa, ở chưa nóng đít chừng mười hai giờ đò chạy là Thuấn đưa bà ra đò. Lần nào cũng vậy, mỗi khi ra đò là nó nhất nhất đòi theo bà về cho bằng được. Bà cũng hết lời khuyên răn Thuấn phải ráng nhịn nhục để có chỗ nương thân. Nhưng giọng nó cứ khăng khăng: má cứ cho con về dưới. Ở đây cứ sống chui nhủi, làm cực mà ăn không no, ngủ chưa thẳng giấc lại phải đi làm, lại còn bị nói nầy nọ đủ thứ. Con không chịu nổi nữa.
Mấy tháng sau nó lỏn lẻn vác cái thân về thật. Nó quảy gối vừa về đến Bờ Xe Chùa thì gặp bọn lính, thằng xã Vinh nạt hỏi: Mày là thằng nào, ở đâu tới cho tao xem căn cước coi. Thằng nhỏ không mang theo giấy căn cước. Mấy đứa không hỏi thêm gì nữa bèn xông vô bóp cổ, nắm tóc, đấm đá thằng nhỏ một trận nhừ tử rồi bắt về đồn nhốt trong chuồng cọp.
Lửa ngọn đèn nhỏ xuống, ánh sáng mờ dần, đèn sắp hết dầu. Bà chồm qua mé vách và lôi ra chai thủy tinh loại một xị, trong chai không còn một giọt dầu. Bà lão nói: Cháu chịu cực ở nhà, bà lên giồng mua ít dầu, chút xíu bà về.
Tranh thủ chút ánh sáng còn lại, đứa cháu vội dọn sạch hết các xoong nồi, bát đũa vào một chỗ. Vừa xong thì ngọn đèn cũng lụng mất. Bóng tối vây kín nó trong tức khắc. Không gian vắng lặng lại bắt đầu hiện ra. Tiếng dế kêu vo ve không dứt ngay bên vách chòi. Mấy con mèo hoang rửa đực kêu ọe ọe như con nít khóc. Gió thổi làm những tàu lá dừa cọ nhau rào rạo phía bên trên. Cảm giác sợ hãi bắt đầu chiếm hữu trong nó. Nó rùng mình, da gà nổi lên khắp cơ thể. Nó cố không nhìn ra bên ngoài cửa, nhưng nó không thể điều khiển mắt nó được. Trong sâu thẳm của bóng đêm dày đặc, những đốm lửa cứ lượn lờ chập chờn, lúc ẩn lúc hiện. Lúc này tim nó đập dữ dội. Nước tiểu như muốn rịn ra quần. Nó nhớ lại hồi nhỏ, những lần mẹ nó giỗ nó không chịu ngủ, mẹ nói: con nít mà không chịu ngủ sớm, thức khuya một hồi là “ông kẹ” bắt ăn thịt bây giờ. Lúc đó nó sợ nên vội nhắm mắt trùm mền kín mít, nhưng trong không hình dung nổi “ông kẹ” có hình dạng như thế nào.
Bây giờ nó đoán chắc mình đã thấy “ông kẹ” thiệt rồi. Tâm trí nó bắt đầu bấn loạn. Nó không biết phải trốn vào đâu trong căn chòi nhỏ hẹp, vách phên trống trải. Đâu cũng toàn là bóng tối. Nó chết lặng một lúc rồi định hình ra chiếc giường ở phía tay phải, phía sau là hai bó lá dừa khô. Hay là nó sẽ chui trốn vào sàn giường rồi kéo hai bó lá dừa phủ kín lại. Vừa định thực hiện những ý nghĩ thoáng qua trong đầu thì nó nghe tiếng ho khúng khắng từ xa cứ tiến gần, tiến chân lẹt xẹt. Bà lão về tới.
Tiếng bà lão cất lên: “cháu ơi”. Tim nó bắt đầu giãn ra. Cảm giác sợ hãi bỗng nhiên biến mất. Miệng nó ấp úng: “cháu đây bà ơi”. “Cháu ở nhà một mình có sợ không?”. Giọng bà lão rung lên. Chắc do sương bên ngoài rơi nhiều nên mới khiến giọng bà lão rung đến vậy. Nó như vỡ giọng anh hùng rơm của mình: “cháu không sợ, nhưng hình như có “ông kẹ” đi ở dưới đầu vườn bà ơi”. Bà lão cười khì một cái: “cháu chưa ở quê vào ban đêm nên chưa thấy, chứ ở đây đêm nào cũng có “ông kẹ” đi hết. “ông kẹ” cháu thấy lúc nãy, người ta gọi đó là con ma đuốt. Bây giờ, vậy là ít đó cháu. Hồi cha cháu còn nhỏ, trên mẩu đồng trống trơn, chạng vạng nào nó cũng chạy lên bờ mẩu xem ma đuốt đi. Ma đuốt theo gió đi từ dưới đầu bờ, là ở chỗ cháu thấy lúc nãy, dọc về phía gò Lôi rồi biến mất. Cha cháu sợ ma đuốt mà hôm nào cũng chạy đi coi, đêm nào về cũng nằm mơ nói làm xàm trong miệng”.
Sau này khi lên học cấp ba, đứa cháu mới được nghe ông thầy dạy Hóa giải thích về chuyện ma đuốt là ma trơi, hai chất photphin và diphotphin có khả năng tự cháy trong không khí.
Mà sao ma đuốt ở dưới đầu bờ nhiều vậy hả bà, đứa cháu thắc mắc. Ngọn đèn lại được bà lão thắp sáng, không khí trở nên ấm hơn. Bà lão kể tiếp với giọng tức giận, những nếp nhăn trên khuôn mặt bà như muốn nứt ra: cháu nhớ cái tên Hai Củ mà bà kể vừa rồi không? Dạ nhớ. Cái ông ăn trộm quần cụt của ông cụ, thiệt đáng ghét, đứa cháu trả lời. “Trong khi người ta ai cũng lo làm đầu tắt mặt tối, còn Hai Củ thì vô công rỗi nghề. Nó có cái tật chuyên trần truồng đi mò đàn bà con gái vào giữa khuya. Nó để ý thấy mấy hôm liền ông cháu vắng nhà, nó cũng biết ông cháu là du kích đang hoạt động nằm vùng. Một hôm, khi bà đang cho cha cháu bú ở trong mùng, bỗng nhiên nó không mảnh vải che thân chui vào nắm tay bà và nói rằng bà phải theo nó. Bà la lên thật to, cha cháu giật mình khóc qué. Ông cụ ngủ ở phía hong, vội vớ cây đòn gánh chạy chặn ngay cửa và đánh vào đầu nó một cái thật mạnh. Nó đau quá nên bỏ chạy mất trong bóng tối. Qua hôm sau khi ông cụ đi nhổ mạ về lúc nửa đêm, nó dùng khúc cây trâm bầu đánh lén ông cụ một trận chí tử. Chưa thỏa mãn, cũng khuya đêm đó, nó dắt bọn lính đi chỉ điểm ngay căn hầm bí mật ở dưới đầu bờ. Lần đó chết mười người, trong đó có ông của cháu. Từ cái vụ đó, nó bỏ trốn biệt xứ. Sau giải phóng nó quay về mà trên mình không một mảnh vải che thân. Nó đi lang thang khắp xóm, miệng lúc nào cũng lảm nhảm, ai cho gì nó ăn đó. Được hơn một năm thì nó chết.
“Đáng đời, ai bảo ổng làm ác nên mới bị trời đày”, đứa cháu nói thật to như cho hả cơn giận.
Còn chuyện cha cháu bị bắt nhốt ở chuồng cọp sao hả bà? Đứa cháu lại hỏi. Bà lão giơ tay ra khỏi mùng vặn nhỏ ngọn đèn: “Nghe được tin cha cháu bị bắt về đồn bà như không thở được một lúc. Tất cả những gì trong nhà lúc này bán được bà đều bán hết. Dừa, gà, vịt, heo cúi, ngay cả ba con heo cái giống. Con Sấu có đôi bông tai duy nhất cũng tự nguyện tháo bỏ vào. Đúng ra bao nhiêu tiền đó bà nhờ người ta lo cho Thuấn ra trót lọt, nhưng nào ngờ ngay lúcthằng đồn trưởng được điều đi nơi khác. Bọn họ nhận tiền rồi cũng mất tăm. Thằng khác lại về. Thuấn vẫn bị nhốt. Lòng bà rối như tơ vò. Để kiếm chút hy vọng, bà mới đi lên gặp ông Tư Tụi, ổng nói: tôi có người anh bà con làm quận trưởng ở dưới, nhưng phải có chút gì đó để gặp mặt nói chuyện. Bà nói: bao nhiêu cũng được, miễn thằng Thuấn được thả. Bây giờ bà không còn một thứ gì đáng giá ngoài miếng đất đang ở. Biết chuyện, nên dựa vào lúc túng quẫn bà Ba Mạnh đòi mua luôn cho liền canh liền cư. Bà năn nỉ là chỉ cầm thôi, cuối cùng bà Ba Mạnh cũng chịu. Với một điều kiện là bà phải đi ở cho bà ta trong hai năm. Nhưng trong thâm tâm của bà Ba Mạnh vẫn muốn mua cho được mảnh đất. Nói đến đây giọng bà trở nên khô cứng hơn: giờ chỉ còn mảnh đất này là kỷ niệm duy nhất của bà…
Bà không có thời gian và tiền bạc đâu để mà lên xuống thăm Thuấn như trước nữa. Con Sấu lần đó cuối cùng nó cũng chịu trở về rồi đi lấy chồng ở trên miệt Cái Nhum. Sau này, mấy lần nó có về thăm bà, trông nó mập mạp hơn trước nhiều lắm.
Bị một lần đó, Thuấn như biết thân biết phận, nó ngoan ngoãn nghe lời ông Tư Tụi đi làm đây đó khắp nơi mà không một tiếng than van.
Chưa đầy một năm thì giải phóng. Nó trở về nhà thăm bà cùng một cô gái lai Tàu có dáng người thon và nước da trắng như bông bưởi. Đó là mẹ cháu hiện giờ. Cũng do đi đóng sạp cho người ta ngoài chợ nhà lồng thị xã rồi quen mẹ cháu. Người Tàu họ quen sống nghề buôn bán tạp hóa trên phố, trên chợ nên cha cháu đâu thể để mẹ cháu lội ruộng, lội mương mãi ở đây được. Về sống chung với bà chẳng bao lâu, hai vợ chồng cũng về thị xã ở từ đó.
Giọng bà lão yếu dần. Tiếng ngáy phi pho bắt đầu rít nhỏ trong miệng bà. Trong ánh đèn lờ mờ, hai mắt bà lão trũng xuống khuất sâu thành hai lỏi đen. Gà ở xóm trên bắt đầu gáy lên từng đợt. Tiếng rột rẹt của chuột đang khoét dừa nghe quanh quẩn trên không. Đứa cháu cứ nằm lăn qua lộn lại gần suốt đêm mới chợp được mắt…
Gần một năm, bà lão ngã bệnh và không thể tự lo cho mình được nữa. Cha nó chẳng cách nào hơn là đem bà lão về trên nhà chăm sóc. Được ít hôm thì bà lão mất. Để cho trọn tâm nguyện của bà, mặc dù nhà ở xa mảnh đất, nhưng cha nó vẫn tới lui trông coi vườn tược. Một thời gian sau, đứa cháu đột nhiên mắc bệnh “viêm dây thần kinh ngoại biên” khi nó vừa đi thi đại học về. Để chữa chạy hết bệnh cho nó thì cần rất nhiều tiền. Không cách nào để có tiền cứu nó, cha thằng bé đành phải bán mảnh đất của bà lão cho con trai bà Ba Mạnh.
Vậy là khoảng ký ức cuối cùng về người bà ở trong nó đã bị bán mất.
Nó ghi nợ với cuộc đời khoảng ký ức này.
Biết khi nào nó mới chuộc lại được?
