Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực chiến lược mới cho tăng trưởng hai con số của Việt Nam

Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực chiến lược mới 
cho tăng trưởng hai con số của Việt Nam
Việt Nam xác lập và kiên định một mô hình phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng nhanh và bền vững.

(PLVN) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khép lại, mở ra một chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Trong bức tranh tổng thể đó, một thông điệp xuyên suốt, nổi bật và có ý nghĩa định hướng lâu dài được khẳng định rõ ràng: Việt Nam phải xác lập và kiên định một mô hình phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng nhanh và bền vững.

Đây không chỉ là một lựa chọn chính sách mang tính tình thế, mà là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, gắn liền với tầm nhìn chiến lược của Đảng và vai trò lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm trong giai đoạn bản lề hướng tới các mục tiêu năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Lựa chọn tất yếu cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Nhìn lại tiến trình phát triển của đất nước, mỗi bước ngoặt lớn đều gắn với sự hình thành và khẳng định một mô hình phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong thời kỳ chiến tranh và bao cấp, đến mô hình đổi mới dựa trên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ Đại hội VI và tiếp đó là mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và hội nhập quốc tế trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

Tuy nhiên, thực tiễn những năm gần đây cho thấy các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bộc lộ giới hạn. Năng suất lao động tăng chậm, dư địa mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên không còn nhiều, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển dịch địa - kinh tế toàn cầu.

Chính trong bối cảnh đó, những chỉ đạo mạnh mẽ của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc “xác lập mô hình tăng trưởng mới”, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng, đã mở ra một hướng tư duy chiến lược mới, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước. Đây là sự lựa chọn vừa mang tính tất yếu của thời đại, vừa xuất phát từ yêu cầu nội tại của quá trình phát triển Việt Nam.

Mô hình đặc trưng Việt Nam: Từ lý luận đến thực tiễn

Mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không phải là một ý tưởng mới trên thế giới. Trong lịch sử tư duy kinh tế, vai trò của tri thức, công nghệ và vốn nhân lực ngày càng được khẳng định là động lực quyết định của tăng trưởng dài hạn. Từ lý thuyết tăng trưởng nội sinh, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, đến mô hình nhà nước kiến tạo phát triển và các tiếp cận mới về kinh tế số, dữ liệu và tài sản vô hình, tất cả đều chỉ ra một điểm chung: tăng trưởng bền vững trong dài hạn chỉ có thể đạt được khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực trung tâm.

Thực tiễn quốc tế càng củng cố nhận định này. Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Israel, các nước châu Âu hay gần đây là Trung Quốc đều cho thấy vai trò quyết định của Nhà nước trong việc định hướng chiến lược, đầu tư dài hạn cho khoa học - công nghệ, giáo dục và hạ tầng, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và thị trường trở thành chủ thể của đổi mới sáng tạo.

Điểm đáng chú ý là các quốc gia thành công đều không sao chép máy móc một mô hình có sẵn, mà vận dụng linh hoạt theo điều kiện lịch sử, trình độ phát triển và thể chế của mình. Điều này cũng chính là tinh thần mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh: mô hình phát triển mới của Việt Nam phải “đứng trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam”, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại, vừa mang bản sắc và đặc thù Việt Nam.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030”. (Ảnh: TTXVN)
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030”. (Ảnh: TTXVN)

Động lực mới cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Trong bối cảnh Việt Nam đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số càng cho thấy tính thời sự và cấp thiết. Tăng trưởng hai con số không thể đạt được chỉ bằng cách mở rộng đầu tư hay khai thác thêm nguồn lực truyền thống, mà đòi hỏi một “cú hích” về năng suất, chất lượng và hiệu quả, dựa trên đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ.

Thực tiễn những năm qua cho thấy chuyển đổi số đã và đang mở ra những không gian phát triển mới cho nền kinh tế. Việc phổ cập hóa đơn điện tử, chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến; sự bùng nổ của thương mại điện tử, kinh tế nền tảng; hay việc khai thác dữ liệu trong quản lý và cung cấp dịch vụ công đã tạo ra những tác động tích cực, trực tiếp và có thể đo lường được đối với tăng trưởng và hiệu quả kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, để các động lực này thực sự phát huy vai trò trung tâm, cần một cách tiếp cận quyết liệt và đồng bộ hơn. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, “không trì hoãn đổi mới, không chậm trễ hành động”. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Chỉ thị đầu tiên của Bộ Chính trị ngay sau Đại hội đã thể hiện rõ yêu cầu chuyển mạnh từ “học tập, quán triệt” sang “hiểu sâu - hành động đúng - làm đến cùng”.

Hành động: Thước đo của thành công

Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức hay chủ trương, mà ở năng lực tổ chức thực hiện, điều phối liên ngành và kỷ luật chính sách. Mô hình phát triển mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những chương trình hành động cụ thể, những dự án thiết thực và những kết quả có thể cảm nhận được trong đời sống kinh tế - xã hội.

Điều đó đòi hỏi vai trò dẫn dắt mạnh mẽ của Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, sự vào cuộc đồng bộ của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương, cũng như năng lực tham mưu chiến lược của các cơ quan nghiên cứu, tư vấn chính sách của Đảng. Đồng thời, công tác tuyên truyền sau Đại hội XIV cần làm rõ bản chất, ý nghĩa và lợi ích lâu dài của mô hình phát triển mới, tạo sự đồng thuận và niềm tin trong toàn xã hội.

Dấu ấn tư duy quan trọng

Có thể khẳng định, việc xác lập và thúc đẩy mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một dấu mốc tư duy quan trọng của Đại hội XIV, gắn liền với dấu ấn lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm trong giai đoạn bản lề của đất nước. Đây không chỉ là lời giải cho bài toán tăng trưởng trước mắt, mà còn là nền tảng để Việt Nam xây dựng năng lực phát triển dài hạn, tự chủ và bền vững trong một thế giới đầy biến động.

Thành công của mô hình này sẽ được đo bằng chính những kết quả cụ thể trong những năm tới: năng suất lao động được nâng cao, doanh nghiệp Việt Nam vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu, đời sống Nhân dân được cải thiện và vị thế của Việt Nam được củng cố trên trường quốc tế. Đó cũng chính là thước đo sinh động nhất cho tinh thần “quyết tâm gấp mười lần và hành động gấp trăm lần” mà Đại hội XIV đã đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

“Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là khẳng định con đường đổi mới đúng đắn, mà quan trọng hơn là phải đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và sâu rộng hơn về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và “đặc biệt là trong năng lực tổ chức thực hiện”. “Điểm nghẽn” căn bản nhất hiện nay không nằm ở đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành kết quả phát triển cụ thể”. - Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 7/2/2026.

Trần Văn Việt Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương