Khó cho dân và không khả thi
Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực từ ngày 1-7-2009, sau gần 2 năm thực hiện, Luật này bộc lộ những vướng mắc, đòi hỏi phải có hướng dẫn cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực từ ngày 1-7-2009, sau gần 2 năm thực hiện, Luật này bộc lộ những vướng mắc, đòi hỏi phải có hướng dẫn cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
![]() |
| Thi hành án dân sự tại huyện Thủy Nguyên. |
Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 58 của Chính phủ ngày 13-7-2009 "Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự " quy định về xác minh điều kiện thi hành án: Cơ quan thi hành án dân sự chỉ chủ động xác minh đối với loại việc thuộc trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành (quy định tại khoản 1, điều 36). Trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án, chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu người được thi hành án có nghĩa vụ chứng minh việc người phải thi hành án có tài sản để thi hành án và yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án. Người được thi hành án cung cấp kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án và tự chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài liệu đó. Trường hợp không thể tự xác minh được có thể yêu cầu chấp hành viên xác minh, kèm theo tài liệu để chứng minh là họ đã không thể tự xác minh được. Qua thực tế công tác thi hành án dân sự, nhiều chấp hành viên và người được thi hành án đều có chung nhận xét, quy định như vậy là khó khăn cho người được thi hành án và không có tính khả thi
Bởi, khi đã phải đưa nhau ra tòa án xét xử thì hai bên phải thi hành án hay được thi hành án đều có mâu thuẫn sâu sắc, còn nếu đã thỏa thuận được với nhau về trách nhiệm dân sự thì các bên ít khi phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan thi hành án dân sự. Thực tế có những vụ án người phải thi hành án và người được thi hành án không biết nhau (dễ thấy nhất là các vụ việc dân sự trong hình sự), thậm chí chưa bao giờ biết nhà nhau, không biết địa chỉ cư trú của người phải thi hành án thì khó có thể chứng minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, không thể biết tài sản của người phải thi hành án ra sao, nhất là các động sản và tài sản cất giữ, gửi ở ngân hàng (tiền, vàng, đô la...). Còn nếu trường hợp chứng minh được người phải thi hành án có tài sản thì vô cùng gian nan. Ví dụ, phải xác minh được người phải thi hành án có giấy chứng nhận về nhà đất thì giấy tờ đó do nơi nào cấp, số bao nhiêu, diện tích đất, tài sản trên đất. Hoặc trường hợp người phải THA có động sản như tàu thuyền, xe ô tô, mô tô thì phải biết giấy tờ đăng ký của phương tiện, biển số, đơn vị, cơ quan, tỉnh (thành phố) nào cấp.... Như vậy thật rắc rối, dẫn đến việc thực tế có rất ít người được thi hành án chứng minh được tài sản của người phải thi hành án. Còn ngay cả khi biết người phải thi hành án có tài sản, người được thi hành án cũng không có quyền áp dụng các biện pháp đối với người phải thi hành án như cấm chuyển dịch, chuyển nhượng tài sản, tạm giữ tài sản để tránh tẩu tán...
Những vướng mắc trên của Luật Thi hành án dân sự cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể tạo thuận lợi cho người dân và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
Huyền Chi
