Khí thế lao động ở vùng mỏ trong những ngày đầu tiếp quản

Khí thế lao động ở vùng mỏ trong những ngày đầu tiếp quản
Cụ Nguyễn Ngọc Đàm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính khu Hồng Quảng nhớ về mùa Thu độc lập. (Ảnh: Đức Dương)

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, mở ra một thời kỳ mới của đất nước. Ở vùng mỏ Quảng Ninh, mùa Thu ấy đi vào ký ức của những người từng trải qua những ngày đầu của chính quyền cách mạng bằng những hình ảnh gần gũi: cờ đỏ sao vàng, những khu phố công nhân rộn ràng, những cuộc gặp gỡ, văn nghệ và niềm vui được sống trong không khí của một đất nước độc lập.

Sắc cờ đỏ trên vùng mỏ

Cụ Nguyễn Ngọc Đàm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính khu Hồng Quảng nhớ về mùa Thu độc lập trước hết từ sắc cờ trên phố mỏ. Cụ kể, những lá cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm được treo trước cửa nhà, trên đường phố và những khu dân cư công nhân Hòn Gai, Cẩm Phả. Với người lao động, sau những năm sống dưới chế độ thực dân, đó là một cảm nhận mới về quyền làm chủ và niềm vui của một dân tộc độc lập.

Cụ nhớ, vùng mỏ khi ấy vẫn còn nghèo khó. Người công nhân quanh năm làm việc trong hầm lò, đối mặt với nhọc nhằn, hiểm nguy. Nhưng trong những ngày đầu độc lập, không khí lại rất phấn khởi. Các khu phố công nhân có gặp gỡ, văn nghệ, vui chơi. Những việc tưởng như giản dị ấy đem đến cảm giác khác biệt: người dân được sống trong không khí tự do và có ý thức rõ hơn về việc mình là chủ nhân của cuộc sống mới.

Theo lời cụ Đàm, niềm vui độc lập không đồng nghĩa với cuộc sống lập tức hết khó khăn. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối mặt với kinh tế kiệt quệ và nhiều nguy cơ gây mất ổn định. Vùng mỏ, nơi có vị trí quan trọng đối với ngành Than, phải vừa tổ chức sản xuất, vừa vận động Nhân dân và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Cụ kể, trong những năm 1946 - 1947, hoạt động tại Hòn Gai - Cẩm Phả, cán bộ cách mạng nhiều lúc phải dựa vào Nhân dân. Những gia đình công nhân và người dân bình thường đã nhường cơm, giấu cán bộ, làm liên lạc hoặc âm thầm bảo vệ những người đang đấu tranh. Với cụ, đó là một phần ký ức không thể tách rời khỏi những ngày đầu giữ gìn thành quả của độc lập…

Tập trung khôi phục sản xuất, tưng bừng khí thế mới

Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, cụ Đàm nhớ rất rõ ngày 25/4/1955, sáng hôm ấy, quân dân thị xã Hòn Gai tổ chức mít tinh trọng thể, ra mắt Ủy ban Quân chính và đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi quân, dân Hồng Quảng. Cụ cùng Ban Quân quản từ Đông Triều về sân vận động Hòn Gai trên một chiếc ô tô rất cũ. Cả vùng mỏ rực rỡ cờ hoa, người dân đón bộ đội tiến về tiếp quản. Từ đây, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, ruộng vườn, đồi núi, sông biển do Nhân dân làm chủ, bước vào thời kỳ mới. Khi tiếp quản, cụ làm Quyền Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Đặc khu Hồng Gai, được giao làm Phó ban Quân quản vào tiếp quản thị xã Hòn Gai. Cụ kể, sau tiếp quản, việc khôi phục sản xuất trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Nhiều công trường, thiết bị, máy móc phải được sửa chữa mới có thể hoạt động. Tại Hà Tu, những ngày sau tiếp quản chỉ còn công trường Bàng Danh A hoạt động với hơn 400 công nhân lao động thủ công. Khó khăn lớn, nhưng cũng từ đây khí thế của người làm chủ được thể hiện rõ trong công việc hằng ngày.

Cụ Đàm chia sẻ, cán bộ, công nhân tập trung khôi phục sản xuất than, đồng thời khôi phục các nhà máy cơ khí để sửa chữa máy móc, ô tô vận chuyển, máy xúc, máy gạt, xe goòng phục vụ khai thác. Sản xuất than từng bước được khôi phục, nhất là ở Cẩm Phả. Công nhân các công trường sôi nổi ra quân, sản xuất những tấn than đầu tiên. Với họ, lao động lúc ấy không chỉ là công việc mưu sinh mà còn là công việc của những người vừa giành được quyền làm chủ và đang bắt tay xây dựng cuộc sống mới.

Cụ không quên khí thế của người thợ sau ngày tiếp quản. Cụ kể, trong ánh mắt người công nhân là niềm tin và tinh thần hăng hái, không quản khó khăn, gian khổ. Phong trào công nhân tự quản lý sản xuất được hưởng ứng, tinh thần làm chủ ngày càng rõ hơn. Chế độ quản lý dân chủ bước đầu gắn trách nhiệm với quyền lợi của công nhân, tạo nên một khí thế lao động mới. Kế hoạch sản xuất hằng tháng, hằng năm đều hoàn thành vượt mức đề ra.

Cụ kể tiếp, sau một năm tiếp quản, khôi phục sản xuất vẫn là nhiệm vụ hàng đầu. Tuyến đường sắt Hồng Gai - Hà Tu được khôi phục, đưa vào sử dụng. Lực lượng xung phong xẻ núi làm đường tàu, giúp vận chuyển than thuận lợi hơn. Công tác quản lý sản xuất, quản lý kinh tế từng bước đi vào nền nếp; quyền làm chủ của công nhân được phát huy, năng suất và hiệu quả lao động nâng lên, đời sống công nhân mỏ được cải thiện.

Nhìn lại chặng đường ấy, điều cụ Đàm nhớ nhất không phải những con số hay thành tích riêng của một cá nhân, mà là tinh thần của người lao động. Từ niềm vui trong mùa Thu độc lập đến khí thế khôi phục những tầng mỏ, nhà máy, đường vận chuyển, một ý thức làm chủ từng bước được thể hiện bằng lao động cụ thể. Đó cũng là cách truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” được cụ nhìn nhận qua những năm tháng vùng mỏ chuyển sang một thời kỳ mới.

“Bác Năm vùng mỏ” và ký ức về những con người bình dị

Cụ Nguyễn Ngọc Đàm hoạt động cách mạng với bí danh Lê Vân, sau này được nhiều đồng chí, đồng đội, cán bộ, công nhân gọi thân mật là “Bác Năm vùng mỏ”. Cụ nhớ lại, khi ấy, cụ theo anh trai là công nhân Nhà máy Kẽm Quảng Yên, vừa học, vừa làm liên lạc cho anh trai và các đồng chí của anh. Những năm tháng ấy đã góp phần tôi luyện người thanh niên Nguyễn Ngọc Đàm. Sau thời gian trở về Bắc Giang hoạt động, đầu năm 1946, cụ trở lại vùng mỏ tham gia cách mạng.

Cụ Nguyễn Ngọc Đàm (người đeo kính) từ Đông Triều về sân vận động Hòn Gai, chỉ huy các lực lượng tiến vào tiếp quản Hòn Gai ngày 25/4/1955. (Ảnh tư liệu do Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh cung cấp)
Cụ Nguyễn Ngọc Đàm (người đeo kính) từ Đông Triều về sân vận động Hòn Gai, chỉ huy các lực lượng tiến vào tiếp quản Hòn Gai ngày 25/4/1955.
(Ảnh tư liệu do Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh cung cấp)

Sau đó, trên cương vị Phó Bí thư Khu ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính khu Hồng Quảng, cụ tập trung lãnh đạo khôi phục sản xuất than và các nhà máy cơ khí. Những công việc ấy gắn cuộc đời cụ với giai đoạn vùng mỏ chuyển từ tiếp quản sang khôi phục sản xuất.

Ở tuổi cao, khi kể lại chặng đường đã qua, cụ Đàm dành nhiều sự quan tâm cho những người thợ mỏ, những gia đình lao động và người dân đã đồng hành với cách mạng. Cụ nhớ nhất tinh thần hăng hái, không quản khó khăn của công nhân sau tiếp quản. Theo cụ, những người con cách mạng luôn ý thức tự giác và tinh thần làm chủ của họ là chỗ dựa vững chắc cho chính quyền và cũng là biểu hiện của truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”.

Hơn 80 năm sau mùa Thu năm 1945, vùng mỏ đã có nhiều đổi thay. Những hầm lò và khu phố công nhân năm xưa đã mang diện mạo mới. Nhưng trong ký ức của “Bác Năm vùng mỏ”, sắc cờ đỏ, niềm vui của Nhân dân trong những ngày đầu độc lập và khí thế của người công nhân khi bước vào khôi phục sản xuất vẫn là những hình ảnh khó phai…

Mùa Thu độc lập không chỉ được nhớ bằng sắc cờ và niềm vui. Ký ức ấy còn nối dài qua những ngày Nhân dân che chở cán bộ, qua ngày tiếp quản vùng mỏ và qua những buổi công nhân sôi nổi ra quân khôi phục sản xuất. Từ cảm nhận được sống trong một đất nước độc lập đến việc tự mình làm chủ hầm mỏ, nhà máy và lao động cho cuộc sống mới, đó là một chặng đường được cụ Đàm nhớ lại bằng những câu chuyện về những con người bình dị nhưng kiên cường, chính những con người ấy đã góp phần làm nên sức mạnh của vùng mỏ hôm nay…

Ghi chép: Công Hoan - Đức Dương