Khi kết quả giám định "lệch pha”

Do không còn tên trong công ty mới nên ông Huấn, bà Thành cho rằng, mình bị chiếm đoạt cổ phần nên đã tố cáo vụ việc đến cơ quan công an. Sau này, CQĐT đã xác định rằng, việc ông Huấn bị gạt tên ra khỏi công ty làm ông này mất cổ phần tương đương hơn 7 tỷ đồng, bà Thành mất hơn 3 tỷ đồng.

Ngày 5/7, TAND TP.Hà Nội mở phiên tòa xét xử bị cáo Thái Lương Trí (71 tuổi, ở TP.Vinh, tỉnh Nghệ An, là Giám đốc Công ty TNHH Thái Dương, Nghệ An) và nhân viên dưới quyền Dương Minh Hải (53 tuổi, ở quận Hai  Bà Trưng, Hà Nội) về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đằng sau vụ án hình sự này là một tranh chấp về vốn góp giữa các thành viên trong một liên doanh khai thác khoáng sản tại Lào.

Giả tài liệu “ngoại”?

Theo cáo buộc, vào tháng 11/2004, Thái Lương Trí - lúc đó là GĐ Công ty TNHH Thái Dương đã thỏa thuận với ông Oong Khăm Sivilay (quốc tịch Lào - GĐ Công ty Khai thác khoáng sản Thảo Oong Khăm, CHDCND Lào) để góp vốn thành lập công ty liên doanh khai thác khoáng sản.

hbff
Bị cáo Trí và Hải tại phiên tòa.

Tháng 10/2006, Trí đã gửi bản hợp đồng của hai bên (mang số 07, ký ngày 15/6/2006) để bổ sung vào hồ sơ, trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Việt Nam, xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư nước ngoài. Năm 2009, khi vụ án được khởi tố thì Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an Việt Nam có giám định rằng, hợp đồng số 07 nêu trên (bản tiếng Việt) có chữ ký giả mạo của ông Oong Khăm Silivay.

CQĐT cho rằng, Trí đã biết chữ ký của ông Oong Khăm Silivay tại hợp đồng số 07 là giả, hợp đồng không có giá trị pháp lý nhưng vẫn nộp bổ sung vào hồ sơ trình Bộ KH&ĐT Việt Nam để xin cấp Giấy phép đầu tư ra nước ngoài.

Vật chứng “giả” thứ hai liên quan đến phía Lào mà bị cáo đã sử dụng là con dấu  mang chữ Lào “Công ty Cổ phần khoáng sản Lào Việt- LVM” (dấu số 1 - PV). Con dấu này mới chỉ có Giấy phép khắc dấu mà chưa có Giấy phép sử dụng con dấu của Bộ An ninh Lào nên cơ quan công tố cho rằng, các bị cáo dùng con dấu để đóng vào nhiều văn bản này từ tháng 4/2008 đến thời điểm bị bắt (tháng 5/2009) đồng nghĩa với việc dùng dấu giả.

Liên quan đến tính pháp lý của con dấu số 1, Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã cung cấp cho HĐXX văn bản của cơ quan chức năng của nước bạn Lào - Cục quản lý dân cư và công an bản, ngày 1/7/2011, chứng nhận: “Con dấu thứ 1 là con dấu nhận được sự xác nhận đúng của Cục quán lý dân cư và công an bản theo văn bản số 938 ngày 12/3/2009, được sử dụng từ ngày 23/4/2008 và có hiệu lực sử dụng về mặt pháp lý”. Còn các bị cáo cho hay, vào tháng 6/2008, Công ty CP khoáng sản Lào Việt đã chính thức được cấp giấy phép sử dụng dấu có nội dung giống như con dấu được cơ quan chức năng khắc trước đó.

Ngoài ra, các Luật sư còn đề cập đến văn bản ngày 10/7/2002 và ngày 30/7/2010 của Tổng Cục Cảnh sát (Bộ An ninh Lào) xác nhận, “trong hợp đồng liên doanh giữ Công ty Ong Khăm Sivilay và Công ty Thái Dương ký ngày 15/6/2006 (bản Tiếng Việt), hình dấu 8 cạnh của Công ty Oong Khăm (...) và hình dấu 4 cạnh của cơ quan công chức là đóng dấu thật, mực đóng dấu là mực thật và chữ ký của ông Oong Khăm Si Vi Lay là chữ ký thật”. Dư luận đặt câu hỏi: Vì sao có sự “lệch pha” trong kết quả giám định như vậy?

Gạt cổ đông ra ngoài là chiếm tài sản?

Vật chứng thứ 3 mà CQĐT cho rằng đã bị giả mạo là “biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty TNHH Thái Dương” ngày 19/3/2008 vì lúc này, tuy bà Thành đã là thành viên góp vốn nhưng không được bị cáo Trí thông báo để tham gia cuộc họp.

Bác bỏ cáo buộc này, luật sư bào chữa cho rằng,  cuộc họp thành viên trên là có thật, biên bản họp được đóng dấu và có chữ ký thật. Có chăng thì biên bản này chỉ có sai sót trong việc ghi thành phần dự họp. Không thể coi văn bản có một chỗ ghi sai là văn bản giả được.

Điều đáng nói ở chỗ, chính từ biên bản bị coi là giả trên, CQĐT đã cáo buộc các bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của hai đối tác Việt Nam trong Công ty Cổ phần Khoáng sản Lào Việt trước đây là ông Đoàn Văn Huấn và bà Chu Thị Thành. Theo CQĐT, bị cáo Trí đã dùng biên bản này này để bổ sung hồ sơ xin Bộ KH&ĐT Việt Nam cho cấp Giấy phép đầu tư điều chỉnh ra nước ngoài. Sau đó, Bộ KH&ĐT Lào đã cấp Giấy phép thành lập Công ty liên doanh khoáng sản Việt Lào với hai nhà đầu tư là Công ty TNHH Thái Dương Việt Nam và Công ty Oong Khăm khai thác mỏ Lào.

Do không còn tên trong công ty mới nên ông Huấn, bà Thành cho rằng, mình bị chiếm đoạt cổ phần nên đã tố cáo vụ việc đến cơ quan công an. Sau này, CQĐT đã xác định rằng, việc ông Huấn bị gạt tên ra khỏi công ty làm ông này mất cổ phần tương đương hơn 7 tỷ đồng, bà Thành mất hơn 3 tỷ đồng.

Đa số các Luật sư bào chữa đều cho rằng, quan hệ trên đây là tranh chấp trong nội bộ công ty nên cần giải quyết theo luật đầu tư, luật doanh nghiệp... chứ không được giải quyết bằng vụ án hình sự. Mặt khác, hành vi chiếm đoạt của bị cáo là không rõ ràng vì trước khi khởi tố vụ án, bị cáo đã có đề nghị bàn bạc trả lại vốn góp cho bà Thành, ông Huấn. Vả lại, hai bị hại này chưa bị mất tài sản vì họ chưa nộp đủ vốn góp theo thoả thuận, cần phải có kiểm toán xem các thành viên đã góp được bao nhiêu tiền...

Hôm nay (7/7), phiên tòa tiếp tục với phần đối đáp của Kiểm sát viên. Trước đó, Kiểm sát viên đã đề nghị HĐXX xử phạt 16-18 năm tù đối với bị cáo Trí, 14-16 năm tù đối với bị cáo Hải.

Khoa Lâm