Khai quốc công thần triều Nguyễn được ban họ vua vì lòng trung nghĩa

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Nguyễn Huỳnh Đức (1748 - 1819) là công thần khai quốc của nhà Nguyễn, từng giữ chức Tổng trấn của cả Bắc Thành lẫn Gia Định Thành. Sinh thời ông được xem là một trong ngũ hổ tướng của triều Nguyễn, tên tuổi gắn với những chiến công vang dội và nổi tiếng là bề tôi trung nghĩa hiếm có.
Điện thờ có nhiều di, cổ vật gắn liền sự nghiệp của ông Nguyễn Huỳnh Đức. Điện thờ có nhiều di, cổ vật gắn liền sự nghiệp của ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Hổ tướng được cả 2 bên trọng dụng

Nguyễn Huỳnh Đức vốn tên là Huỳnh Tường Đức (có tài liệu ghi Huỳnh Công Đức), nhưng có nhiều công trạng nên được ban họ vua. Ông sinh trưởng tại giồng Cái Én, làng Tường Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, nay thuộc phường Khánh Hậu, TP Tân An, tỉnh Long An.

Nguyễn Huỳnh Đức xuất thân là con cháu võ tướng, cha là Huỳnh Công Lương, ông nội là Huỳnh Công Châu đều làm đến Thủy sư đô đốc. Thời trẻ Nguyễn Huỳnh Đức có công mở đất Ba Giồng (Gò Yến, Gò Kỳ Lân, Gò Qua Qua). Ông được mô tả là “dung mạo khôi ngô, khoẻ mạnh hơn người, ai cũng coi là hổ tướng”. Cùng Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Trương, Đỗ Thành Nhơn, Trương Tấn Bửu, ông được người đời suy tôn “Ngũ hổ tướng Gia Định”.

Năm 1781, ông gia nhập quân Đông Sơn của Đỗ Thành Nhơn. Cùng năm, chủ tướng Đỗ Thành Nhơn bị Nguyễn Ánh sát hại nhưng Nguyễn Huỳnh Đức vẫn đượctin dùng. Năm 1783 trong trận chiến Đồng Tuyên, ông bị quân Tây Sơn đánh bại và bị bắt làm tù binh. Chỉ huy quân Tây Sơn lúc này là Nguyễn Huệ thấy ông khôi ngô, dũng mãnh, lòng sinh ái mộ nên tự tay cởi trói và khuyến dụ.

Ông chịu theo Tây Sơn nhưng có lời giao kết là chỉ đánh quân Trịnh, chứ không đánh quân chúa Nguyễn. Với tính khí khẳng khái trung quân, tài thao lược, ông được Nguyễn Huệ trọng dụng. Năm 1786, ông theo Nguyễn Huệ ra Bắc Hà đánh chúa Trịnh. Ông lập công lớn nên được cho giữ đất Nghệ An và làm phó tướng của Nguyễn Văn Duệ. Sau nhân cơ hội Duệ làm phản, Nguyễn Huỳnh Đức trốn về với chúa Nguyễn.

Khai quốc công thần triều Nguyễn được ban họ vua vì lòng trung nghĩa ảnh 1Khu lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức ở TP Tân An, tỉnh Long An.

Năm 1799, ông được thăng chức Chưởng quản Hữu quân dinh, ra đánh lấy được Phan Rí. Ông cũng dẫn quân tham chiến trận Thị Nại, chiếm thành Quy Nhơn giúp Nguyễn Ánh xoay chuyển cục diện. Sauông được cử vào cai quản xứ Định Tường rồi khi Nguyễn Ánh chiếm thành Phú Xuân, ông được giao trấn giữ thành Quy Nhơn.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, Nguyễn Huỳnh Đức được phong Quận công. Năm 1810, ông được làm Tổng trấn Bắc thành kiêm Khâm sai Chưởng tiền quân. Năm 1816, ông làm Tổng trấn Gia Định cùng với Hiệp Tổng trấn Trịnh Hoài Đức, cai quản toàn miền Nam. Ông là danh tướng duy nhất từng giữ cả chức Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành.

Năm 1819 ông mất khi đang tại chức, thọ 71 tuổi, được an táng tại nơi quê nhà. Vua Gia Long truy tặng ông là: “Thôi trung Dực vận công thần, đắc tấn phục quốc, Thái phó Đức quận công, Thượng tướng quân thượng trụ quốc” và được thờ tại miếu Trung hưng công thần tại kinh đô Huế. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), ông được truy tặng là Kiến Xương Quận công. Ông có bốn người con trai đều là võ quan, trong số đó có hai người là rể vua Gia Long.

Một lòng trung nghĩa

Bên cạnh tài năng, dũng mãnh, Nguyễn Huỳnh Đức được người đời biết đến bởi lòng trung nghĩa hiếm có. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” chép rằng khi chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh tan tác ở Sài Gòn, Nguyễn Huỳnh Đức chạy theo cứu giá. Khi đi thuyền trên sông, lo sợ phía trước có thuyền địch, vua muốn lội lên bờ để tránh, nhưng Nguyễn Huỳnh Đức nghĩ rằng sông ấy có nhiều cá sấu rất nguy hiểm, cố xin chúa bình tĩnh để xem hư thực thế nào.

Sau nhìn kĩ mới biết, phía trước chỉ là đàn cò trắng đang đậu trên cây dọc bờ sông chứ không phải những cánh buồm thuyền địch. Vừa sợ bị truy kích vừa mệt mỏi, giữa đêm trên thuyền vua gối đầu vào đùi Huỳnh Đức ngủ. Hổ tướng cứ thế xua muỗi suốt đêm cho vua và canh chừng động tĩnh. Nguyễn Ánh sau đó khen Huỳnh Đức là người trung quân, ban cho ông quốc tính và xem ông như người trong hoàng tộc.

Năm 1783, khi bại trận, bị anh em nhà Tây Sơn bắt, Nguyễn Huỳnh Đức đã khảng khái: “Nếu không giết ta thì ta lại trốn về với chúa cũ mà thôi”. Nguyễn Huệ nể trọng người tài, không giết mà còn chiêu dụ. Thời gian lưu lại doanh trại của Nguyễn Huệ, do nhớ thương chủ cũ nên trong lòng ông thường phẫn uất. Một đêm mơ ngủ ông quát mắng Nguyễn Huệ rất to.Quân tướng giận, muốn đem giết nhưng vị anh hùng áo vải cho là lời trong giấc ngủ, không nỡ bắt tội.

Suốt thời gian theo nhà Tây Sơn bình định Bắc Hà, Nguyễn Huỳnh Đức đã thực hiện lời thề: “Nếu nghe Nguyễn vương còn sống thì dù thiên lý, vạn lý cũng tìm”. Thực hiện lời thề này, năm 1786, ông trốn khỏi quân đội Tây Sơn để vượt núi rừng hiểm trở sang Xiêm La với chúa Nguyễn, có lúc lương cạn ông cùng quân sĩ đã ăn lá cây cầm hơi. Khi ông đến được đất Xiêm La (Thái Lan) thì Nguyễn Ánh đã về lại Gia Định.

Thấy ông là mãnh tướng, vua Xiêm La muốn giữ lại, Nguyễn Huỳnh Đức thề là thà chết chứ không chịu, nhân đó lại kể nỗi gian nan đi tìm chủ, khiến khí uất ngùn ngụt bốc lên mà thổ ra một hòn máu. Vua Xiêm La thấy không thể ép buộc được, cũng trọng mà cấp thuyền cho về.Và cuối cùng ông đã thực hiện được lời thề, tiếp tục phò trợ chúa Nguyễn đến ngày hoàn thành đại nghiệp.

Chẳng những là danh tướng khai quốc công thần của triều Nguyễn, Nguyễn Huỳnh Đức còn là người có công khai phá Giồng Cái Én (Khánh Hậu), được nhân dân tôn thờ như một vị Tiền hiền. Tương truyền, khi ông mất đã có câu hát khóc thương: “Ngậm ngùi thay, tôi trung liệt. Giữ một tiết ngay, ở cùng chúa. Vẹn toàn câu chung thủy! Ước tự ngàn xưa có mấy ai!”.

Ngày nay tại đền thờ trong di tích lăng mộ và đền thờ ông(phường Khánh Hậu, TP Tân An, tỉnh Long An) vẫn còn những liễn đối do vua Gia Long đề tặng: “Bắc Nam tam tổng trấn, vạn lý binh quyền” (nghĩa: từ Bắc chí Nam muôn dặm, ông nắm binh quyền tổng trấn ba lần), “Anh hùng mi lục Xiêm, Miên, Lào, Mán tri danh” (nghĩa: mày mắt anh hùng Xiêm, Miên, Lào, Mán đều biết tiếng).

Tại đây còn lưu giữ nhiều cổ vật quý như các sắc phong, chiếu, chế, chỉ và cả tranh vẽ. Đặc biệt là bức họa truyền thần Nguyễn Huỳnh Đức được vẽ từ năm 1802, lúc ông 55 tuổi. Bộ ván độc mộc dài 3,4 m - rộng 1,8 m - dày 0,14 m, vốn là là di vật mà ông sử dụng lúc chưa đi theo chúa Nguyễn. Trong đền còn có 3 bộ lỗ bộ (đồ binh khí), chiếc khánh bằng đồng thau được đúc năm 1819.

Đền còn lưu giữ chiếc hộp sơn son đựng tám bản chiếu, chỉ, chế, sắc của nhiều vua Nguyễn phong tặng. Đặc biệt, nơi điện thờ còn lưu giữ đoản kỷ do vua Xiêm La ban tặng vào năm 1789, khi ông đi sứ qua đó; một khánh lệnh bằng đồng do vua Gia Long ban tặng vào năm 1819. Ở cuối chánh điện có khám thờ với bức đại tự do vua Tự Đức đề tặng năm 1854.

Cách không xa đền là khu lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức cho chính ông xây dựng năm 1817, tức hai năm trước khi mất. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, đây là một trong những kiến trúc lăng mộ cổ nhất tại Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến nay.

Trước mộ có tấm bia đá cao 1,56 m- rộng 0,95 m được mang từ Huế vào.Mộ đắp nấm hình hộp: dài 3,4 m - rộng 2,7 m - cao 0,3 m. Sau mộ là bình phong lớn có viết bài Thọ Phần Minh, tất cả được che chắn bằng những bức tường đá ong kiên cố. Trong khuôn viên này có cả thảy 9 cặp liễn đối, một bài minh, một bức bình phong bằng đá ong cao 3 m với hoa văn hình cây đại thụ che mát cho đôi hươu.

Di sản lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức mang giá trị về cả lịch sử lẫn nghệ thuật kiến trúc. Lăng mộ và đền thờ ông được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1993. Tưởng nhớ tiền nhân, hàng năm, vào 3 ngày (mùng 7, 8 và 9 tháng 9 âm lịch), nhân dân trong và ngoài tỉnh tề tựu cùng gia tộc làm lễ giỗ ông hết sức trọng thể.

Ngày nay tên ông được đặt cho nhiều đường tại các tỉnh Long An, Kiên Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long. Nguyễn Huỳnh Đức cũng được suy tôn làm tổ sư của mônphái Nam Huỳnh Đạo. Theo các nhà nghiên cứu, Nguyễn Huỳnh Đức đã trở thành tín ngưỡng trong văn hóa dân gian Nam bộ. Ngoài đền thờ ở TP Tân An, ông còn được thờ ở các đình Cẩm An (Tây Ninh), đình Long Hải (Vũng Tàu), đình Mỹ Trung (Tiền Giang) và đình Ưu Long (quận 8, TP HCM).

Gia Nguyễn
Cùng chuyên mục
Tái hiện nghi lễ cúng vía lúa của người Mường.

Phong thủy và tín ngưỡng thờ thần thánh tại các tứ trấn Việt Nam (Kỳ 12): Vì sao người Việt thờ Lúa?

(PLVN) - Đối với cư dân nông nghiệp lúa nước, việc cầu mùa màng bội thu, nhân khang, vật thịnh, mọi thứ sinh sôi, nảy nở, phát triển là khát vọng muôn đời. Cho rằng lúa có linh hồn (vía), nhiều dân tộc ở Việt Nam có tục thờ vía lúa, hình thành nên Tín ngưỡng thờ Lúa. Cùng với thờ vía lúa, người dân còn thờ cúng Thần Nông và các vị thần nông nghiệp.

Đọc thêm

Thần rừng trong tín ngưỡng của người Pu Péo

Thầy cúng bắt đầu bài cúng thần rừng.
(PLVN) - Rừng thiêng có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày cũng như trong đời sống tâm linh của người Pu Péo. Vì vậy, giống như các dân tộc thiểu số khác, người Pu Péo có tín ngưỡng thờ cúng thần rừng.

Giữ nếp nhà, ăn hiền ở lành

Giữ nếp nhà, ăn hiền ở lành
(PLVN) - "Ăn hiền ở lành" cho con cháu có ở xa đến đâu thì khi nghĩ đến quê nhà, là đều thấy mình đang được mong đợi, là tiếng gọi để mong được trở về để tiếp bước mẹ cha vun xới thêm vào quê nhà. Bước về nơi quê nhà ấy, hay chỉ là nhớ và nghĩ đến thôi, đã cho mình thấy bình yên.

Danh tướng triều Nguyễn với nhiều kỳ tích ở vùng Tây Nam Bộ được dân tôn thần

 Lăng Thoại Ngọc Hầu (Sơn Lăng) tại phường Núi Sam, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang.
(PLVN) - Thoại Ngọc Hầu (1761–1829), bậc khai quốc công thần triều Nguyễn, được biết đến không chỉ là một danh tướng kiệt xuất, nhà ngoại giao tài ba, mà còn là một nhà doanh điền xuất sắc được người dân Tây Nam Bộ tôn kính. Hai công trình có giá trị vô cùng to lớn thể hiện công lao của ông là kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế.

Đền cổ linh thiêng chôn cất cá voi nơi xứ Nghệ

Đền Làng Hiếu có lịch sử trên 350 năm thờ cá Ông Voi.
(PLVN) - Ở Nghệ An có một khu vực bà người dân “quy hoạch” thành khu nghĩa trang hương khói mỗi năm. Nhưng đó không phải là nghĩa trang dành cho người mà là nghĩa trang dành cho...cá voi ở đền Làng Hiếu. Ngôi đền với lịch sử hơn 350 năm là nơi cư dân chọn để lưu giữ xương cốt, thờ phụng cá Ông.

Việt Nam trong ký ức (Kỳ 2): Trăm năm tàu điện Hà Thành

Việt Nam trong ký ức (Kỳ 2): Trăm năm tàu điện Hà Thành
(PLVN) - Háo hức với tuyến tàu điện Cát Linh – Hà Đông đi vào hoạt động, nhiều người Hà Nội xếp hàng từ sớm để được trải nghiệm. Chắc hẳn, trong ký ức nhiều người cao tuổi vẫn còn nhớ tiếng “leng keng tàu điện sớm khuya” thuở trước.

Phong thủy và tín ngưỡng thờ thần thánh tại các tứ trấn Việt Nam (Kỳ 11): Ý nghĩa của những phương thức ma thuật trong tín ngưỡng phồn thực

Tái hiện nghi lễ phồn thực trong Lễ hội Trò Trám ở Phú Thọ.
(PLVN) - Việc thờ thủy thần và thần rắn tại các tứ trấn Việt Nam là biểu hiện của tín ngưỡng nông nghiệp bao gồm: Tín ngưỡng phồn thực, Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và Tín ngưỡng thờ Lúa... Tín ngưỡng phồn thực được thể hiện qua sự tôn sùng sinh thực khí nam nữ và hoạt động tính giao với những phương thức ma thuật.

Lên đại ngàn nghe giai thoại về hoàng đế cuối cùng triều Nguyễn

Biệt điện Bảo Đại tại Buôn Ma Thuột.
(PLVN) - Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam nổi tiếng với những thú ăn chơi "độc nhất vô nhị" trở thành giai thoại trong dân gian. Cưỡi voi, săn hổ, du ngoạn "hồ thủy quái"… là những chuyện thú vị được người dân Tây Nguyên đồn thổi khi nhắc về vị vua này.

Người nghệ sĩ dương cầm làm rạng danh nước Việt

Chân dung Nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn thời trẻ.
(PLVN) - Nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn được cả thế giới âm nhạc biết đến khi là người châu Á đầu tiên đạt giải Nhất Cuộc thi piano quốc tế danh tiếng Chopin năm 1980. Không chỉ làm rạng danh nước nhà, từ đó đến nay, bằng việc giảng dạy và truyền cảm hứng, ông đã chắp cánh cho nhiều tài năng âm nhạc thăng hoa...

Giá trị toàn cầu của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Tiếp theo): Vì sao Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch?

Hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy thường niên tại Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng (Phú Thọ).
(PLVN) - Như đã nói ở kỳ trước, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã, đang và sẽ mãi là điểm tựa cho khối đại đoàn kết của dân tộc, vun bồi ý chí, năng lực nội sinh của con người Việt Nam. Tuy nhiên, không nhiều người biết được vì sao Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch.

Chuyện thời du học (Kỳ 5): Ở xứ sở của “vựa” xe đạp cuốc và quạt tai voi

Chiếc xe đạp “cuốc” nhãn hiệu Sputnik (với lô-gô hình con nhạn của nhà máy xe đạp Khacov), “đặc sản” một thời của Kharcov và niềm mơ ước của bao người Việt du học.
(PLVN) - Như đã nói ở kỳ trước, sau đúng 16 ngày đêm kể từ lúc lên tầu ở ga Hàng Cỏ (Hà Nội), vừa đi vừa nghỉ, nhóm chúng tôi đến vùng đất hoàn toàn châu Âu của Liên Xô. Đến một trong các thành phố văn minh, hiện đại nhất của Liên Xô lúc ấy: Thủ đô Kiev của xứ Ucraina. Bắt đầu một cuộc sống sinh viên xa nhà 6 năm đằng đẵng…