John McCain- từ vị khách tại “Hilton Hà Nội” đến ứng viên Tổng thống Mỹ

Với chiến thắng trong các cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại 4 bang vào ngày 5-3 vừa qua, Thượng nghị sĩ (TNS) John McCain sớm giành quyền trở thành ứng viên đại diện cho đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sắp tới. Đây sẽ là cuộc chạy đua hết sức đặc biệt, khi vị tổng thống tương lai của nước Mỹ có thể là một người phụ nữ đầu tiên (bà Clinton), một người da màu đầu tiên (ông Obama) hoặc một người lắm “duyên nợ” với đất nước Việt Nam xa xôi- McCain ...

“Diều hâu” gãy cánh...

Năm 1982, khi tranh cử ghế Hạ nghị sĩ tại quận 1 bang Arizona- thắng lợi đầu tiên trên chính trường của McCain, trước chất vấn của cử tri đại ý rằng một người chẳng có dây mơ rễ má gì tại địa phương như ông liệu có thể là người đại diện cho họ?, McCain đã trả lời: “Sự thật là nơi tôi sống lâu năm nhất trong đời  là Hà Nội”. Như vậy, dù muốn hay không và câu nói đó có dụng ý gì, sự thật là Việt Nam vẫn là nơi để lại nhiều dấu ấn sâu sắc đối với chính khách kỳ cựu 71 tuổi này.

John McCain- từ vị khách tại “Hilton Hà Nội” đến ứng viên Tổng thống Mỹ
“Giặc lái” Jonh McCain được tự vệ Hà Nội vớt lên từ dưới hồ Trúc Bạch, ngày 26-10-1967.

Quả vậy, Jonh McCain bắt đầu gắn bó với Việt Nam từ tháng 3-1967, khi tàu sân bay Forrestal- nơi ông phục vụ, tới vịnh Bắc Bộ tham gia chiến dịch “Sấm rền” ném bom phá hoại miền Bắc, theo chiến lược mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam của Tổng thống Mỹ khi đó là L.Johnson. Ngay tháng 7-1967, McCain suýt mất mạng- bị mảnh bom văng trúng hai chân và ngực trong vụ cháy lớn trên  tàu Forrestal (132 thủy thủ thiệt mạng, 161 người khác bị thương, 20 máy bay bị phá hủy). Dù đôi lúc tỏ ra băn khoăn về những mục tiêu ném bom và mức độ thiệt hại cho dân thường (qua hậu quả vụ cháy trên), thiếu tá McCain vẫn hoàn toàn tuân thủ mênh lệnh cấp trên.

Ba tháng sau, ngày 26-10-1967, trong lúc cùng 20 máy bay Mỹ khác tấn công nhà máy điện Yên Phụ tại Hà Nội, chiếc A-4 Skyhawk của McCain trúng quả tên lửa SAM-2 của lực lượng phòng không Việt Nam. Trong phi vụ thứ 23 của mình trên bầu trời miền Bắc, phi công McCain không tránh được sự trừng phạt của quân, dân Việt Nam đối với những hành động gây tội ác của mình: máy bay bốc cháy, ông ta bị thương vào tay, chân và nhảy dù rơi xuống hồ Trúc Bạch. Bức ảnh ghi lại cảnh McCain được vớt khỏi hồ trên gây xôn xao một thời tại Việt Nam và trên thế giới. McCain trở thành vị khách “không mời mà đến” trong trại giam phi công Mỹ tại Hỏa lò Hà Nội- thường được biết đến qua biệt hiệu “Hilton Hà Nội”. Trong thời gian này, cha ông, đô đốc John S. McCain, được chỉ định làm Tổng tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, trong đó có chiến trường Việt Nam, thời kỳ 1968-1972.  Đây cũng là lúc cuộc chiến xâm lược Việt Nam leo thang lên tới đỉnh cao rồi kết thúc bằng thất bại lịch sử của nước Mỹ.

John McCain- từ vị khách tại “Hilton Hà Nội” đến ứng viên Tổng thống Mỹ
Trong dịp TNS JohnMcCain trở lại Hà Nội năm 1992 (với tư cách thành viên thuộc Ủy ban POW/MIA của Thượng viện Mỹ), các quan chức Việt Nam tặng ông những bức ảnh chụp hồi còn là “khách” tại “Hilton Hà Nội” cách đây 25 năm.

Trong 5 năm rưỡi ngụ tại “Hilton Hà Nội”, cũng như các đồng đội, McCain nhận được sự đối xử nhân đạo của chính quyền và nhân dân nước Việt Nam DCCH. Sau khi Hiệp định hòa bình Paris được ký kết, ông McCain được trao trả ngày 15-3-1973 và trở về Mỹ đoàn tụ với gia đình.

... đến người bắc cầu nối quan hệ Mỹ-Việt

Thật khó có thể biết được diễn biến quá trình thay đổi quan điểm của McCain về quan hệ Mỹ-Việt.

Là tù binh “VIP”, sự trở về của ông được báo chí Mỹ đưa rùm beng, McCain được Tổng thống diều hâu R.Nixon mời đến tiếp kiến tại Nhà Trắng. Bản thân ông sau đó cho đăng trên tờ U.S. News & World Report một tự truyện dài diễn tả ”những gian nan thử thách trong nhà tù Bắc Việt”, chứa đựng không ít  định kiến và lớn tiếng ủng hộ cách điều hành cuộc chiến của chính phủ Nixon. Năm 1987, McCain trở thành thành viên Thượng viện Mỹ đại diện cho bang Arizona- chức vụ dân cử ông giữ liên tục đến tận nay, qua nhiều cuộc bầu cử, rồi được cử vào Ủy ban đặc biệt của Thượng viện Mỹ về tù binh và người Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam (POW/MIA)-  vấn đề luôn được nhiều giới tại Mỹ đưa ra làm hòn đá tảng cản trở việc bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt sau năm 1975. Còn ai hơn McCain có quyền phát biểu về vấn đề này? Nhằm giải quyết dứt điểm POW/MIA, ủy ban được trao nhiều nguồn lực và trách nhiệm, có thể đi bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào khi có thông tin, dù bịa đặt về việc Việt Nam còn giam giữ tù binh.

Chính vì vậy, thời gian đầu John McCain tỏ thái độ thù địch với Chủ tịch ủy ban, TNS Dân chủ John Kerry, người cũng từng là cựu binh và bị thương tại Việt Nam nhưng sau đó tích cực tham gia phong trào phản chiến tại Mỹ, thậm chí tiến hành chiến dịch vận động chống lại ông này tái cử ở bang Massachusetts. Nhưng trong quá trình làm việc, giữa hai người nảy sinh sự hiểu biết và kính trọng lẫn nhau, cả trên phương diện cá nhân và công việc. Tại Thượng viện Mỹ, hai TNS này tạo thành ê-kíp hợp tác trong nhiều vấn đề liên quan tới Việt Nam và là những người tích cực nhất tại Mỹ vận động cho tiến trình bình thường hoá quan hệ Mỹ-Việt Nam. Sau nhiều chuyến đi tới Việt Nam, báo cáo do Ủy ban này đệ trình lên Thượng viện Mỹ năm 1992, trong đó có chữ ký của John McCain, chứng thực rằng “Chính phủ Việt Nam hợp tác đầy đủ trong vấn đề POW/MIA và không có bất cứ bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy còn tù binh Mỹ tại Việt Nam” và kêu gọi bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt. Đây là cơ sở để một thỏa thuận bình thường quan hệ Mỹ-Việt được đặt lên bàn Tổng thống Mỹ G.Bush (cha) cuối năm đó, chờ ký.

John McCain- từ vị khách tại “Hilton Hà Nội” đến ứng viên Tổng thống Mỹ
Các TNS John Mc Cain và John Kerry (ngồi thứ hai và ba từ trái sang) trong một chuyến thăm Việt Nam năm 1995.

Tuy nhiên, dưới áp lực nặng nề của nhiều thế lực chống đối, ông G.Bush (cha) đã không ký và gánh nặng được trao cho tân Tổng thống Dân chủ Bill Clinton- người bị đặt vào thế bí vì quá khứ chống chiến tranh và trốn quân dịch. Hơn ai hết, McCain hiểu rõ Clinton sẽ gặp nhiều khó khăn  về vấn đề này và một mình ông không thể làm được. Do vậy, ngay khi Clinton vào Nhà Trắng, McCain, Kerry và Pete Peterson (Hạ nghị sĩ Mỹ, cựu binh Việt Nam, sau là đại sứ đầu tiên của Mỹ tại CHXHCN Việt Nam) đến gặp Tổng thống. Dù ở hai đảng đối lập, McCain nói với B.Clinton: "Tôi sẽ sát cánh cùng ngài. Ngài cứ tiến về phía trước (trong bình thường hoá quan hệ với Việt Nam), khi ngài quay lại phía sau, ngài sẽ thấy tôi luôn ở phía sau bảo vệ ngài". Với sự ủng hộ mạnh mẽ đó, tháng 6-1995, Tổng thống Clinton chính thức bình thướng hóa quan hệ Mỹ-Việt, mở ra thời kỳ mới giữa hai nước. Và từ đó tới nay, TNS McCain vẫn luôn là người ủng hộ việc phát triển và nâng tầm mối quan hệ  này.

Cơ hội để trở thành Tổng thống McCain

Tuy từ lâu được coi là nhân vật quan trọng nhiều tiềm năng của đảng Cộng hòa, song đến năm 2000, TNS McCain mới chính thức tham gia cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Có lẽ cũng bởi tư duy độc lập khiến ông không ít lần mâu thuẫn với nội bộ phe Cộng hòa Mỹ. Khi làm việc tại Ủy ban POW/MIA, McCain từng bị một số người phỉ báng là một kẻ “phản bội”. Tất nhiên, chính trường Mỹ đầy rẫy phức tạp. Năm đó, khi bầu sơ bộ trong nội bộ phe Cộng hòa,McCain chỉ về nhì sau G.Bush (con), người sau đó đắc cử Tổng thống Mỹ.

Trở lại cuộc đua sau 8 năm, thoạt đầu McCain không được đánh giá cao, vì tuổi tác- 71 (nếu đắc cử, McCain sẽ trở thành vị Tổng thống già nhất trong lịch sử Hoa Kỳ), vì quan điểm ủng hộ cuộc chiến của Mỹ tại Iraq và Luật di dân tạo cơ hội cho hàng triệu người nhập cư bất hợp pháp trở thành công dân Mỹ, vốn bị nhiều người Mỹ phản đối, và cuối cùng, ngân sách vận động tranh cử khá “khiêm tốn”. Đúng như dự đoán, trong cuộc bầu sơ bộ đầu tiên của đảng Cộng hòa tại bang Iowa, McCain thất bại thảm hại khi chỉ về thứ 4, tưởng chừng phải “bỏ cuộc chơi”. Tuy nhiên, như có phép màu, kể từ cuộc bầu sơ bộ tại bang New Hampshire ngày 8-1-2008, TNS McCain giành thắng lợi liên tiếp, trong khi các đối thủ cùng đảng sừng sỏ như Fred Thompson, Rudy Giuliani, Mitt Romney... lần lượt rút lui do thất bại và tuyên bố ủng hộ. Ngày 5-3, McCain chính thức giành đủ sự ủng hộ của hơn 1.191 đại biểu để trở thành ứng viên Cộng hòa ra tranh cử chức Tổng thống Mỹ,

Như vậy, sau TNS John Kerry năm 2004, lại có một cựu binh Việt Nam là ứng viên Tổng thống Mỹ. Nhưng liệu McCain có đi xa hơn người bạn mình? (TNS Kerry bị Tổng thống Bush con đánh bại năm 2004). Các nhà phân tích cho rằng, thành công của ông McCain trong cuộc bầu sơ bộ là nhờ vào chiến lược thu hút các cử tri độc lập và ôn hòa, cùng sự tận dụng tốt mối quan hệ với truyền thông để quảng bá cho chiến dịch tranh cử của mình. Xét về mặt nào đó, việc ông McCain giành quyền ứng cử quá sớm cũng có điểm bất lợi, trong khi cuộc đua trong nội bộ phe Dân chủ giữa các TNS H.Clinton và Obama đang hồi gay cấn, thu hút t sự chú ý của cử tri và giới truyền thông Mỹ- vấn đề vô cùng quan trọng trong bầu cử tại Mỹ.

Về quan điểm chính trị, McCain được đánh giá là bảo thủ, gần gũi với cố Tổng thống R.Reagan (1980-1988), người đẩy cuộc chạy đua vũ trang Mỹ-Xô lên đỉnh cao (được xem là một nguyên nhân khiến Liên Xô sụp đổ). Chiến lược tranh cử của ông năm nay nhấn mạnh vào mấy điểm: binh lính Mỹ tiếp tục có mặt tại I-rắc và Áp-ga-ni-xtan cho tới khi hai nước này “ổn định”, chống khủng bố, giảm thuế và ủng hộ tự do hóa thương mại toàn cầu- một số là sự nối tiếp chính sách hiện nay của Tổng thống G.Bush. Một số ý kiến cho rằng, tình hình quốc tế có thể căng thẳng hơn nếu ông McCain đắc cử. Trong lúc kinh tế Mỹ đang mấp mé bên bờ vực suy thoái như hiện nay, việc bà Hillary Clinton và ông Obama đều chủ trương tăng cường bảo hộ mậu dịch để bảo vệ công ăn việc làm cho người Mỹ, tăng thuế để tăng ngân sách cho các chương trình xã hội, được xem là một “mánh” thu hút cử tri khá hiệu quả trong vấn đề được quan tâm bậc nhất này.

Như vậy, ông McCain chưa hẳn đã ở thế thượng phong. Tuy nhiên, như những hành động trong quá khứ cho thấy, ông McCain luôn linh hoạt trong cách tiếp cận và xử lý vấn đề, chứ không để bó cứng theo quan điểm chung của đảng Cộng hòa. Hay nói cách khác, tính thực dụng, cốt được việc luôn được McCain vận dụng tối đa đến mức có thể. Vẫn lấy chuyện Việt Nam làm ví dụ: khi thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt, quan tâm đầu tiên của TNS McCain chắc chắn là một nước Việt Nam vững mạnh, có quan hệ tốt với Mỹ sẽ chỉ có lợi cho lợi ích của Hoa Kỳ về toàn cục, cả trong khu vực châu Á lẫn thế giới. Vả chăng, khi bỏ phiếu, cử tri Mỹ thường chú ý tới phẩm chất và cá tính của ứng viên, chứ ít để ý đến số bằng cấp hay những tuyên bố tranh cử ồn ào mà họ thừa hiểu là “mị cử tri”.

Vì vậy, theo quan điểm của người viết bài này, tính độc lập cao và sự tự tin thể hiện qua những cam kết rõ ràng trong nhiều vấn đề dù biết rằng nhiều cử tri không thích, là thế mạnh nổi trội của ông McCain trong cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 11 tới. Trong bối cảnh xã hội đang chia rẽ vì hai cuộc chiến sa lầy cách xa nước Mỹ hàng vạn km, kinh tế đang chao đảo, cá tính mạnh mẽ của một cựu binh từng trải sẽ gây ấn tượng và thuyết phục cử tri Mỹ hơn là một nhà chính trị trẻ ít kinh nghiệm 46 tuổi (ông Obama) hay một luật sư “phái yếu” (bà Clinton), tuy tài hùng biện có thể ăn đứt đối thủ, song lại lúng túng và không có quan điểm rõ ràng trong những vấn đề nhạy cảm đối với người Mỹ như I-rắc- luôn dao động giữa nỗi lo sợ và lòng tự ái. Chưa kể cuộc đua nội bộ phe Dân chủ đang gay gắt và nặng nề tới mức “gà nhà đá nhau”, hay những rào cản cố hữu về màu da, giới tính... chưa phải đã hết tại nước Mỹ hiện tại, mà người đắc lợi là ông McCain.

Dù sao thì chọn ai làm Tổng thống là quyền của người Mỹ. Thế giới, trong đó có Việt Nam, sẽ hoan nghênh và hợp tác với bất cứ vị Tổng thống Mỹ nào ủng hộ hòa bình và sự ổn định, phát triển trên toàn cầu. “Hilton Hà Nội” xưa giờ chỉ còn di tích kỷ niệm, một Hilton thực sự đã mọc lên hoành tráng cạnh Nhà hát lớn Hà Nội, cũng như quan hệ Việt-Mỹ không ngừng phát triển kể tư năm 1995, vượt qua những bất đồng tất yếu. Rất có thể, nếu đắc cử, một cựu binh từng biết cái giá của chiến tranh như McCain sẽ tìm ra cách đưa nước Mỹ “thoát hiểm”, cũng như sẽ ủng hộ việc tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị, đối tác cùng có lợi giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, như ông từng góp sức thúc đẩy trong gần 20 năm qua.

Minh Vũ