Huyện Vĩnh Bảo: Kết quả từ đề án chuyển đổi cơ cấu giống, thời vụ

Năm 2008 là năm đầu huyện Vĩnh Bảo xây dựng và thực hiện đề án chuyển đổi cơ cấu giống, thời vụ, kỹ thuật thâm canh nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa. Tại nhiều xã trong huyện có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu trà lúa, giống lúa, giúp nông dân tăng cả năng suất, chất lượng sản phẩm. Đây cũng là nhân tố để huyện giữ vững vị trí đứng đầu toàn thành phố về năng suất lúa. Thành công của đề án này được huyện tiếp tục nhân rộng trong vụ chiêm- xuân năm 2009.

Để thực hiện đề án trên huyện Vĩnh Bảo chỉ đạo các xã, HTX nông nghiệp tích cực chuyển đổi cơ cấu trà vụ, mở rộng diện tích trà xuân muộn, mùa sớm và sử dụng các giống lúa tiến bộ, đồng thời xây dựng vùng sản xuất tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá. Theo đó, cơ cấu trà vụ được nông dân các địa phương thực hiện chuyển đổi khá tốt. Diện tích sản xuất bằng các giống lúa lai, lúa chất lượng dần được mở rộng. Chẳng hạn, ở vụ mùa, diện tích lúa lai của huyện chiếm 7,5%; lúa chất lượng là 22,5%. Các xã Cao Minh, Liên Am, Dũng Tiến, Tân Liên, Hoà Bình, Việt Tiến là những địa phương thực hiện tốt đề án chuyển đổi cơ cấu giống, thời vụ, kỹ thuật thâm canh tăng năng suất và sản lượng lúa. Ông Vũ Xuân Tác, Chủ tịch UBND xã Việt Tiến cho biết, hai vụ sản xuất vừa qua, xã mạnh dạn tuyên truyền, hỗ trợ nông dân triển khai xây dựng các cánh đồng sản xuất tập trung, sử dụng phần lớn giống lúa lai để gieo cấy. Nhờ vậy, những cánh đồng sản xuất tập trung này đã giúp nông dân có thu nhập cao gấp 1,5-2 lần so với gieo cấy các giống lúa thuần... Trong vụ lúa chiêm- xuân này, xã tiếp tục mở rộng diện tích gieo cấy các giống lúa lai cho chất lượng gạo ngon. Nhiều xã trên địa bàn huyện cũng nhân rộng đề án này ngay trong vụ lúa chiêm- xuân 2009. Toàn huyện phấn đấu 30-35% diện tích gieo cấy cả vụ chiêm- xuân được nông dân sử dụng giống lúa lai; hơn 30% diện tích được sử dụng giống lúa chất lượng.

           

Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu trà vụ, cơ cấu giống, huyện còn tích cực vận động nông dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật gieo trồng, thâm canh tiến bộ. Chẳng hạn như áp dụng biện pháp cấy thẳng, kỹ thuật tổng hợp “quản lý chất dinh dưỡng” ... Một số xã chú ý hơn đến quy hoạch vùng sản xuất tập trung, chỉ đạo cấy cùng một trà, cùng một giống lúa. Hướng dẫn nông dân các biện pháp chăm bón, phòng trừ sâu bệnh trong cùng một thời điểm. Vì vậy, năng suất lúa ở một số khu vực luôn đạt cao đồng đều, và hạn chế được tình trạng lúa trỗ lai rai, sâu bệnh gây hại cục bộ. Do đó huyện bước đầu tránh được tình trạng thiếu thống nhất trà lúa, giống lúa trong cùng một khu vực, một thôn, xóm. Bởi vậy, năng suất lúa bình quân 2 vụ của Vĩnh Bảo năm 2008 đạt 61,17 tạ/ha, tăng 1,4% so với kế hoạch và tăng 5,5% so với năng suất bình quân năm 2007. Trong đó, vụ xuân năng suất lúa của huyện đạt 68 tạ/ha, vụ mùa đạt 54,86 tạ/ha. Đây là huyện có năng suất lúa bình quân luôn đứng đầu thành phố.

           

Năm 2009, huyện Vĩnh Bảo chỉ đạo các xã tiếp tục đổi mới cơ cấu trà lúa, giống lúa theo hướng tích cực, đúng lộ trình mục tiêu đề án. Một số xã chỉ đạo sản xuất thống nhất cùng một trà, một giống lúa tại khu vực đã quy vùng tập trung. Toàn huyện phấn đấu năng suất lúa bình quân cả năm đạt 63,5 tạ/ha, trong đó, năng suất vụ chiêm - xuân này đạt 68,5 tạ/ha.

 

                                                               Vân Khánh